Người phát hiện tin lãnh tụ bị bắt và cái giá phải trả cho hành động cứu người
Khi hay tin người đồng chí thân thiết nhất của mình bị cảnh sát Anh giam giữ nơi đất khách, ông không hề chần chừ đứng ra tìm cách giải cứu — dù biết rõ chính hành động ấy có thể khiến bản thân rơi thẳng vào tay kẻ thù đang truy lùng mình gắt gao nhất.
Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896 tại làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông nội là Phó bảng Hồ Bá Ôn, từng hy sinh khi chỉ huy giữ thành Nam Định năm 1883; cha ông — Hồ Bá Kiện — đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan, tham gia phong trào Văn thân, bị thực dân Pháp bắt giam và bắn chết khi lãnh đạo khởi nghĩa phá ngục tại nhà tù Lao Bảo. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan với truyền thống cách mạng ấy, ông sớm nuôi chí lớn.
Năm 1923, ông cùng các thanh niên yêu nước thành lập Tâm Tâm Xã. Tháng 11/1924, khi Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đến Quảng Châu, Người đã tiếp xúc và kết nạp một số thành viên Tâm Tâm Xã vào tổ chức Cộng sản Đoàn, làm hạt nhân xây dựng Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ngày 3/2/1930, ông là một trong 7 người tham dự cuộc họp lịch sử tại Hương Cảng, thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 6/1931, khi hay tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt giữ tại Hương Cảng và có nguy cơ bị trao cho thực dân Pháp, chính Hồ Tùng Mậu là người đầu tiên phát hiện ra sự việc. Ông đã ngay lập tức liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ, nhờ luật sư Frank Loseby đứng ra bào chữa cho Người.
Chính hành động dũng cảm ấy đã khiến ông bị bắt giam và trục xuất khỏi Hồng Kông. Ngày 30/6/1931, khi vừa cập bến Thượng Hải, ông bị mật thám Pháp bắt giải về nước, kết án tù chung thân, trải qua gần 10 năm bị giam cầm, tra tấn qua các nhà tù Hỏa Lò, Kon Tum, Buôn Ma Thuột. Sau này ra tù tiếp tục hoạt động, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và chính quyền cách mạng. Ngày 23/7/1951, trên đường đi công tác, ông hy sinh do trúng bom của máy bay Pháp.


