Người phụ nữ của mỏ thiếc Tĩnh Túc
Trong những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vùng đất mỏ thiếc Tĩnh Túc thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (cũ) không chỉ nổi tiếng là nơi cung cấp khoáng sản cho đất nước, mà còn là hậu phương vững chắc, nơi thắm đượm nghĩa tình quân dân. Ở đó có một người phụ nữ giản dị nhưng đầy nghị lực – bà Trần Thị Nhàn, người đã dành trọn tuổi thanh xuân của mình cho phong trào phụ nữ và cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Bà Trần Thị Nhàn, sinh năm 1942, trú tại số 09 ngõ 19 đường Trần Quốc Toản, phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, bà nguyên là công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc, tỉnh Cao Bằng, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Tĩnh cũ – vùng quê nắng gió nhưng giàu nghĩa tình, nơi đã nuôi dưỡng trong bà ý chí kiên cường, đức tính chịu thương chịu khó và tấm lòng son sắt với quê hương, đất nước. Bà Nhàn đã sớm thoát ly gia đình, tham gia sản xuất khi tuổi đời còn rất trẻ. Từ năm 1955, khi đất nước bước vào giai đoạn vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài, bà Nhàn đã làm công nhân tại mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng, bà tham gia hoạt động trong Hội Phụ nữ địa phương tại khu vực mỏ thiếc. Khi ấy, cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng trong trái tim người phụ nữ ấy luôn cháy lên một niềm tin mạnh mẽ: phải góp sức mình cho đất nước, cho những người lính đang ngày đêm bảo vệ bầu trời và biên cương Tổ quốc.
Những năm kháng chiến chống Mỹ, khu vực mỏ thiếc Tĩnh Túc là nơi đóng quân của nhiều đơn vị bộ đội, trong đó có các đơn vị phòng không – không quân và trạm ra-đa làm nhiệm vụ canh giữ vùng trời Đông Bắc. Nhận thức rõ vai trò của hậu phương, bà Nhàn cùng Hội Phụ nữ địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để chăm lo đời sống tinh thần và vật chất cho bộ đội.
Mỗi dịp lễ, Tết, trong những căn bếp đơn sơ giữa vùng núi Cao Bằng, bà cùng chị em phụ nữ thức đêm gói bánh chưng, chuẩn bị từng phần quà nhỏ gửi đến các chiến sĩ. Những chiếc bánh chưng nóng hổi, những bó rau xanh, những gùi gạo, nải chuối hay cây mía tuy giản dị nhưng chứa đựng biết bao tình cảm của hậu phương dành cho tiền tuyến.
Có những ngày, khi bộ đội hành quân qua con đường nhỏ dẫn vào khu mỏ, bà Nhàn lại cùng người dân đứng hai bên đường, tay cầm những món quà quê mộc mạc. Người tặng chiếc bánh, người đưa nải chuối, người mang bó mía, bao gạo… Từng ánh mắt, nụ cười, lời dặn dò chân tình đã tiếp thêm sức mạnh cho những người lính lên đường làm nhiệm vụ.
Không chỉ chăm lo hậu cần, bà còn là người động viên tinh thần, gắn kết tình quân dân. Bà thường xuyên cùng Hội Phụ nữ đến thăm hỏi các đơn vị đóng quân, chia sẻ khó khăn, giúp đỡ khi bộ đội thiếu thốn hoặc gặp trở ngại trong sinh hoạt nơi vùng núi xa xôi. Những việc làm giản dị ấy đã góp phần tạo nên một hậu phương ấm áp, để người lính yên tâm vững tay súng bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt, trong giai đoạn sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, khi tình hình biên giới phía Bắc có nhiều biến động và Trung Quốc tiến hành xâm lược, tinh thần đoàn kết quân – dân tại mỏ thiếc Tĩnh Túc lại càng được thắt chặt. Bà Nhàn tiếp tục cùng Hội Phụ nữ địa phương tích cực hỗ trợ các đơn vị bộ đội đóng quân bảo vệ khu vực, giữ vững vùng đất biên cương của Tổ quốc.
Suốt hai mươi năm, từ 1955 đến 1975 và những năm sau đó, bà Trần Thị Nhàn đã lặng lẽ cống hiến, góp phần xây dựng một hậu phương vững chắc, giàu nghĩa tình. Những việc làm của bà tuy giản dị nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng các thế hệ cán bộ, chiến sĩ từng công tác, chiến đấu tại mỏ thiếc Tĩnh Túc.
Ghi nhận những đóng góp to lớn ấy, Nhà nước đã phong tặng bà Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì – phần thưởng cao quý dành cho người phụ nữ đã dành cả tuổi trẻ cho đất nước, cho nghĩa tình quân dân bền chặt.
Ngày nay, khi nhắc lại những năm tháng “thời hoa lửa”, người dân mỏ thiếc Tĩnh Túc vẫn nhớ về bà Trần Thị Nhàn – người phụ nữ hậu phương bình dị nhưng kiên cường. Câu chuyện của bà không chỉ là ký ức của một thời chiến tranh gian khó, mà còn là minh chứng cho sức mạnh của lòng yêu nước, của tình đoàn kết quân – dân đã làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam./.


