NGƯỜI PHỤ NỮ CỦA NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH BÍ MẬT
Hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, độc lập, mỗi lần nhắc đến tên Nguyễn Thị Minh Khai, thế hệ trẻ chúng ta lại thấy rõ hơn giá trị của sự hy sinh thầm lặng. Trong không khí thực hiện Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa”, đoàn viên, thanh niên nguyện học tập và noi theo tấm gương kiên trung ấy. Chúng ta sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh của các bậc tiền bối, viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc bằng trí tuệ, bằng nhiệt huyết và bằng trách nhiệm với quê hương. Lời thề của người nữ chiến sĩ cộng sản năm xưa vẫn còn vang vọng: “Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ – Triệt để thực hành chết mới thôi!”.


ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CHI ĐOÀN ẤP 6, XÃ VỊ THANH 1
NGƯỜI PHỤ NỮ CỦA NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH BÍ MẬT
Tác giả: Trần Chí Thanh– Bí thư Chi đoàn ấp 6
Những năm 1930–1940, cả nước Việt Nam chìm trong bóng tối của chế độ thực dân Pháp. Khủng bố trắng tràn lan, nhà tù Côn Đảo, Khám Lớn Sài Gòn trở thành nơi giam cầm hàng nghìn chiến sĩ cách mạng. Trong không khí ngột ngạt ấy, những cuộc đấu tranh bí mật vẫn âm thầm diễn ra dưới lòng đất, trong từng căn nhà lá, từng con hẻm nhỏ của Sài Gòn – Chợ Lớn. Chính giữa lòng địch, một người phụ nữ trẻ đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho phong trào cách mạng miền Nam.
Đó chính là Nguyễn Thị Minh Khai.
Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, chị sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1927, chị tham gia Đảng Tân Việt. Sau đó, chị được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đào tạo, sang Liên Xô học tập và trở thành một trong những cán bộ nữ đầu tiên của Đảng. Năm 1936, chị trở về nước, được cử vào Xứ ủy Nam Kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn với bí danh Năm Bắc. Trong điều kiện hoạt động hết sức nguy hiểm, chị đã tổ chức, lãnh đạo phong trào công nhân, phụ nữ và quần chúng lao động Sài Gòn, góp phần làm nên cao trào dân chủ 1936–1939.
Ngày 30 tháng 7 năm 1940, sau phiên họp của Xứ ủy Nam Kỳ bàn về chủ trương khởi nghĩa, cơ sở bị lộ. Nguyễn Thị Minh Khai sa vào tay mật thám Pháp. Chúng đưa chị về giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Biết chị là cán bộ lãnh đạo cao cấp, thực dân Pháp đã dùng mọi cực hình tra tấn dã man: đánh đập, kìm kẹp, dụ dỗ, mua chuộc… Chúng thậm chí còn tổ chức cuộc đối chất với người chồng – đồng chí Lê Hồng Phong – đang bị giam ở Côn Đảo, hòng ép chị khai báo. Nhưng trước mọi thủ đoạn, chị vẫn kiên quyết không khai một lời về tổ chức và đồng đội.
Trong nhà tù, Nguyễn Thị Minh Khai vẫn tìm mọi cách liên lạc với bên ngoài, tiếp tục lãnh đạo phong trào. Chị đã lấy máu của mình viết lên cánh cửa buồng giam những dòng thơ đầy khí khái:
“Dù đánh, dù treo càng cương quyết Dù kềm, dù kẹp, chẳng sai lời Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ Triệt để thực hành chết mới thôi.”
Trước tòa án thực dân, khi bị kết án tử hình với tội danh “xui giục dân chúng làm rối loạn quốc gia”, chị đã đanh thép chất vấn:
“Nước của tôi, cứu nước là có tội, cướp nước là không có tội sao?”
Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa Nguyễn Thị Minh Khai cùng các đồng chí Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến… ra pháp trường tại Ngã ba Giồng, Hóc Môn. Khi ấy chị mới vừa 31 tuổi. Trước họng súng kẻ thù, chị không để chúng bịt mắt, ngẩng cao đầu hô vang khẩu hiệu cách mạng đến hơi thở cuối cùng. Chị hy sinh khi người con gái Lê Nguyễn Hồng Minh còn chưa đầy hai tuổi.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sự hy sinh của Nguyễn Thị Minh Khai không chỉ là nỗi đau của một gia đình cách mạng, mà còn là biểu tượng sáng ngời của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chị đã chứng minh rằng, dù trong điều kiện hoạt động bí mật khắc nghiệt nhất, dù bị kẻ thù dùng mọi cực hình, ý chí của người cộng sản vẫn không thể bị khuất phục. Tấm gương của chị đã tiếp thêm sức mạnh cho biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng sau này.
Hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, độc lập, mỗi lần nhắc đến tên Nguyễn Thị Minh Khai, thế hệ trẻ chúng ta lại thấy rõ hơn giá trị của sự hy sinh thầm lặng. Trong không khí thực hiện Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa”, đoàn viên, thanh niên nguyện học tập và noi theo tấm gương kiên trung ấy. Chúng ta sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh của các bậc tiền bối, viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc bằng trí tuệ, bằng nhiệt huyết và bằng trách nhiệm với quê hương.
Lời thề của người nữ chiến sĩ cộng sản năm xưa vẫn còn vang vọng:
“Hy sinh phấn đấu vì nhiệm vụ – Triệt để thực hành chết mới thôi!”.



