CÂU CHUYỆN: “NGỌN LỬA TRONG TIM MẸ” (1)
Người thắp lửa cho đại ngàn Tây Giang
Băng qua những con đường mòn vắt mình trên dãy núi cao giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ – nơi những bản làng Cơ Tu ẩn mình trong sương núi và tiếng suối nguồn róc rách. Giữa những tầng tầng lớp lớp cây xanh ấy đã cất tiếng khóc đầu tiên của một vị anh hùng dân tộc vĩ đại – Alang Bhuoch . Sinh ra trong một gia đình đồng bào thiểu số vùng núi Tây Giang , Quảng Nam mang trong mình dòng máu của núi rừng , của nền văn hóa bản làng bền chặt – nơi của nhà Gươl , điệu tung tung da dá , tiếng cồng chiêng ngân vang trong những lễ hội cộng đồng và tình đoàn kết bền chặt như mạch nguồn nuôi sống buôn làng .
Bản sắc dân tộc nhuộm đầy những gam màu sắc rực rỡ của tự nhiên của tình yêu thương tưởng chừng như ông sẽ có một cuộc sống tròn đầy và hạnh phúc bên gia đình. Nhưng sự “ vô thường “ của cuộc sống đã sớm mang người cha kính yêu của ông ra đi , để lại gánh nặng mưu sinh đè lên đôi vai người mẹ giữa cảnh thiếu thốn trăm bề . Nỗi vất vả của một gia đình vốn nghèo nay lại thêm nặng nề hơn giữa thời cuộc bất công và khắc nghiệt. Nhưng bi kịch ấy chưa dừng lại ở đó, năm lên 6 tuổi căn bệnh sởi tái ác đã âm thầm ngày một lấy đi đôi mắt của ông tuy đã có sự giúp đỡ của Thầy Lang nhưng bệnh tình chẳng những không thuyên giảm mà ngày càng trầm trọng , đôi mắt ấy mờ dần cho đến khi không còn thấy nữa. Giữa núi rừng mênh mông , cậu bé Alang Bhuoch từ đó chỉ còn cảm nhận thế giới bằng âm thanh và ký ức : tiếng mẹ gọi trong đêm tối , tiếng lá rừng xào xạc trên nương rẫy, tiếng chiêng tiếng trống hùng vĩ vẫn luôn ngân lên trong những mùa lễ hội . Dù bệnh tình kéo dài , đôi mắt không thể lành lại , ông vẫn không cam chịu số phận mù lòa ngồi mãi một chỗ . Hằng ngày vẫn ông theo mẹ đi rẫy hay vào rừng đốn củi , tập tành ra suối gùi nước , lên nương gùi sắn , gùi bắp..Nhưng do mù lòa, việc đi lại của ông vô cùng khó khăn. Nhiều lần ông té nhào xuống suối, trầy tróc da thịt. Tuy vậy, ông vẫn không nản lòng. Sau những lần vấp ngã đó, ông tự làm cho mình chiếc gậy tre là công cụ dẫn đường để mỗi khi đi gùi nước hay tìm củi sẽ không bị vấp ngã nữa. Chính trong nghịch cảnh ấy , trái tim của người thiếu niên không chìm vào tuyệt vọng mà trái lại – sáng hơn lửa bền hơn đá núi . Chính môi trường ấy đã nuôi dưỡng trong ông bản lĩnh kiên cường, tình yêu quê hương sâu nặng và ý thức cộng đồng mạnh mẽ – những hạt mầm đầu tiên của tinh thần cách mạng sau này.
Thế nhưng, sự bình yên của núi rừng ngày ấy không kéo dài lâu. Những thanh âm trong trẻo – tiếng suối róc rách chảy ngày đêm, tiếng ve ngân nga giữa tán rừng, tiếng gặt lúa va nhẹ vào gốc từng thớ lúa mỗi buổi lên rẫy – tất cả, từng được xem như bản nhạc bất tận của buôn làng, đã sớm bị xé toạc bởi chiến tranh. Rừng xanh bốc cháy trong khói lửa, nương rẫy gãy đổ, mái nhà sàn chìm trong mịt mùng khói đạn. Đế quốc Mỹ đã ồ ạt ném bom xuống “lòng mẹ thiên nhiên”, biến vùng đất Trường Sơn hiền hòa thành địa ngục của lửa và nước mắt.
Giữa khung cảnh ấy, ông lặng người chứng kiến dân làng gùi con chạy trốn trong mưa bom, băng suối, vượt dốc, tìm sự sống giữa lằn ranh của cái chết. Ông nhìn thấy đồng bào mất đi người thân, mất đất canh tác, mất cả những mùa lúa – thứ không chỉ nuôi sống cơ thể mà còn nuôi sống niềm tin của cả cộng đồng. Những bếp lửa ấm áp từng là nơi kể chuyện, là nơi đoàn tụ, giờ chỉ còn lại tro tàn lạnh buốt.
Đau thương chồng chất khiến đôi mắt ông như mờ đi vì khói lửa và nước mắt, nhưng chính trong bóng tối ấy, trái tim ông lại sáng rực hơn bao giờ hết. Lý tưởng yêu nước không đến với ông từ sách vở xa xôi, mà ngấm vào máu từ những mất mát rất thật của bản làng. Từ nỗi sợ hãi, ông tìm thấy lòng dũng cảm. Từ cảnh đổ nát, ông nhận ra trách nhiệm. Và từ nước mắt của đồng bào, ông kết tụ thành lòng căm thù giặc sâu sắc và khát vọng cháy bỏng về tự do, độc lập.
Chiến tranh có thể thiêu rụi rừng cây, nhưng không thể thiêu rụi ý chí con người. Trong ông, đã hình thành một quyết định lặng lẽ nhưng kiên định như núi: đứng lên, đi theo cách mạng, để giành lại đất rừng cho dân làng và cho Tổ quốc. Bởi với ông, bảo vệ bản làng cũng chính là bảo vệ non sông. Giữ lấy bếp lửa quê hương cũng chính là giữ lấy ngọn lửa độc lập của cả dân tộc.
Chính từ ánh sáng của lý tưởng ấy đã soi rọi và dẫn đường để ông quyết định xin gia nhập lực lượng du kích tại địa phương. Thế nhưng, khi ông bày tỏ nguyện vọng, nhiều người chần chừ và lo lắng. Họ sợ rằng ông bị mù, không thể băng rừng, lội suối, không thể di chuyển trong địa hình hiểm trở của Trường Sơn – nơi mỗi bước chân đều là thử thách sinh tử. Nhưng ông không buông bỏ quyết tâm. Trong giây phút đối diện ánh mắt ái ngại của mọi người, ông đã nói một câu vừa mộc mạc vừa rực lửa: “Lúc đầu cán bộ ngại, sợ mình không làm tròn nhiệm vụ nên không muốn nhận. Nhưng mình nói con mắt nằm ở đôi chân, ở cây gậy, mình đã quen với mọi công việc ở cái rẫy cái nương rồi, nó chẳng khác chi việc gùi hàng bây chừ. Cứ cho mình làm thử đi...” Lời nói ấy không phải lời than thân, mà là lời tuyên thệ. Không bi lụy, không yếu mềm, mà đanh thép như đá núi, ấm nóng như bếp lửa buôn làng. Câu nói khiến những người đang do dự phải lặng đi, bởi họ nhận ra: ông không cần đôi mắt để thấy đường, ông cần một con đường để thấy Tổ quốc. Tinh thần ấy đã đánh thức niềm tin trong tập thể, giúp ông chính thức được chấp nhận vào hàng ngũ du kích.
Ngày đầu tiên bỡ ngỡ ấy, ông vác hàng nặng 30kg, không theo kịp mọi người, nhưng ông không bỏ cuộc. Không chịu thua đồng đội vì lý do đôi mắt không còn sáng, Bhuốch luôn nghĩ một điều mình sẽ cõng hàng lâu dài. Mỗi lần như thế, Bhuốch chỉ gùi chừng 50kg với bước chân đều đặn. “Biết thế nào mình cũng chậm hơn anh em nên cố bước đều, luyện cho đôi vai, đôi chân quên mỏi và cả giảm bớt thời gian nghỉ ngơi để theo kịp đồng đội” – Alăng Bhuốch nói. Với sự trợ giúp duy nhất của cây gậy gỗ trong tay, gùi hàng trên lưng ông đã hòa mình cùng hàng trăm đồng bào các dân tộc vượt suối, băng đèo vận chuyển hàng hóa, lương thực từ trạm A Rớt, xã A Nông (Tây Giang) về các hướng theo yêu cầu chiến đấu của bộ đội. Sau nhiều năm trời ròng rã gùi lương thực, năm 1963, ông được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược từ kho ở A Đớt lên các trạm ở A Tiêng rồi Truy Mưng, Sai Da... liên tục trong 12–13 tháng trời. Lúc bấy giờ dù chỉ cân nặng gần 50kg nhưng ông đã cõng trên lưng những thùng súng, đạn nặng từ 70–100kg.Cuối năm 1966, ông được điều động vào Đoàn Trường Sơn thuộc Quân khu 5, phục vụ tại kho vũ khí số 13. Năm 1967, ông được điều về Trạm kho 31 tại hang Khỉ, ranh giới giữa huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam và huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trên cung đường này, ông đã gắn bó 3 năm, liên tục tham gia gùi, cõng rất nhiều chuyến hàng (trung bình mỗi chuyến từ 50 đến 80kg vũ khí hoặc lương thực được vận chuyển trên đôi vai người “lính mù” gày gò nhưng ý chí phi thường ấy). Ông từng gùi 2 đầu đạn tên lửa điều khiển A12, nặng gần 100kg, . Không ngọn đèn dẫn lối , không bản đồ chỉ đường ông chỉ có thể dò từng bước trên rễ cây trên hòn đá trên hơi thở của rừng già gậy tre trên tay ông thoáng chốc không còn là công cụ dò đường mà là ngọn cờ cắm vào từng ngọn đèn từng con suối . Khẳng định :” Đường ra mặt trận Tổ Quốc là đây “ . Giữa thời hoa lửa, gian khổ không chỉ nằm trong những trận đánh, mà còn hiện lên trong những điều bình dị nhất của đời lính. Ông Alăng Bhuôch từng kể lại với giọng điềm nhiên mà ấm áp như đang nói chuyện của một thời rất xa, nhưng chưa bao giờ cũ:
“Trời mưa, không có nhiều áo. Cả tuần chỉ có đúng một bộ. Ướt thì ướt vậy, tối về lại thức khuya hơ lửa cho khô. Có hôm áo còn ấm ấm một chút, mặc lại cũng chẳng sao. Còn khi không có áo, thì đi trần, lấy lá rừng che tạm, rồi lại khô. Đói thì ăn bột sắn, bột củ nâu trong rừng, mỗi ngày một gói nhỏ đem trụng lại. Không có cơm, không có muối, cũng tự ăn. Rừng nuôi mình sống, thì mình nuôi lại rừng bằng lời thề giữ làng, giữ nước.”Câu nói ấy khiến người nghe bật cười mà lòng lại chùng xuống. Cười vì sự mộc mạc, lạc quan đến lạ lùng của ông – giữa bom rơi, áo rách vẫn thấy ấm, thấy đủ đầy chỉ nhờ một bếp lửa. Chùng xuống vì phía sau nụ cười ấy là cả một tuổi trẻ ăn rừng ngủ núi, tự gói gian khó trong ba chữ “không sao đâu”.
Năm 1968, chiến trường miền núi Trường Sơn bước vào giai đoạn ác liệt nhất. Những đoàn gùi thồ vận tải của ta ngày đêm băng rừng, vượt suối, đưa vũ khí và lương thực đến tiền tuyến. Giữa dòng chảy lịch sử ấy, ông Alăng Bhuôch hiện lên như một cột mốc sống, bền bỉ và lặng lẽ. Dù đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng, ông vẫn dùng cây gậy dẫn đường tự đẽo, lần theo từng lối mòn quen thuộc của núi rừng để gùi hàng tiếp tế trên vai, hòa mình vào mạng lưới vận tải của cách mạng.
Ông từng nói: “Đường rừng tối mấy cũng không sợ, chỉ sợ mình dừng lại khi đồng đội đang cần.” Vì thế, đôi chân ông không ngừng bước. Có những đợt ông đi gùi liên tục suốt ba tháng, rồi nối tiếp ba tháng nữa, ròng rã gần 90 ngày không một lần nghỉ trọn giấc, áo ướt lại hong lửa, bụng đói lại trụng bột rừng, mà miệng vẫn cười hiền như suối nguồn không bao giờ cạn.
Một buổi chiều cuối mùa mưa, khi ông vừa hoàn thành chuyến gùi và men đường trở về bên suối A Dương , bầu trời bất ngờ gầm lên tiếng động cơ. Máy bay Mỹ ập đến, thả bom dọc bờ sông nhằm cắt đường tiếp tế của ta. Mặt đất rung chuyển, đất đá văng như thác đổ. Ông không kịp chạy, chỉ kịp chống gậy đứng chắn theo phản xạ của người dẫn đường đi trước đoàn. Một khối đất đá lớn ập xuống, đè phủ kín cả người ông trong bụi mù và tiếng nổ. Thời gian khi ấy dài như vô tận. Đến khi tiếng bom ngớt dần, đồng đội lần theo dấu gậy gãy bên bờ suối, bới từng lớp đất, gọi tên ông trong nghẹn ngào. Và rồi, trong khoảnh khắc tưởng như đã mất, họ chạm được vào bàn tay còn ấm. Cười vì tinh thần lạc quan, đỏ hoe vì họ hiểu rằng: ông không gùi hàng bằng sức lực của một đôi mắt sáng, mà bằng ý chí của một trái tim sáng. Trái tim ấy không chịu khuất phục trước bom đạn, cũng không chịu gục ngã trước số phận. Từ buổi chiều bên suối A Dương năm ấy, ông không chỉ trở thành người lính vận tải kiên cường, mà còn là biểu tượng của sức sống không thể vùi lấp, như núi rừng Trường Sơn – dù bị bom cày nát, mùa xuân vẫn xanh trở lại.
Khi tiếng súng đã lùi xa vào quá khứ, ông Alăng Bhuôch trở về bản làng giữa một buổi sớm mờ sương, không còn mùi khói bom nhưng vẫn còn nguyên vẹn tinh thần của người chiến sĩ năm xưa. Thời bình không trao cho ông hào quang ồn ào, mà trao cho ông một mặt trận mới – mặt trận dựng xây. Và chính ở đó, ông tiếp tục lập nên những thành tựu bền bỉ, thầm lặng mà lớn lao. Sau 14 làm làm nhiệm vụ gùi hàng, đến đầu năm 1972, ông Alăng Bhuốch được cấp trên cho “phục viên” về lại địa phương. Không còn được trực tiếp gùi hàng nhưng hằng ngày đôi chân của chàng trai mù vốn quen đi ngàn dặm vẫn tìm mọi cách giúp sức cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Cứ thế, ông cùng người mẹ già bám trụ nơi quê nhà ra sức khai hoang đất, tăng gia sản xuất để vừa có cái ăn vừa có lương thực nuôi bộ đội.
“Bộ đội ăn no thì mới đánh nổi giặc được. Công sức mình bỏ ra là chỉ để phục vụ cách mạng thôi!” – ông Bhuốch nói.Ông còn là người đầu tiên của làng Azứt đem công trình nước sạch dẫn từ đầu nguồn về nhà để khai hoang ruộng lúa nước .Ông Bríu Quân – Chánh Văn phòng UBND huyện Tây Giang tự hào: “Nếu không trực tiếp chứng kiến, chắc chẳng mấy ai tin rằng, mấy chục năm về trước, ông đã tự mày mò làm đường ra ruộng, khai hoang trồng lúa nước, rồi tự mò mẫm lên núi dẫn nước về đồng. Chính ông Alăng Bhuốch cũng là người đầu tiên làm cuộc cách mạng đưa mô hình lúa nước vào sản xuất nông nghiệp ở Tây Giang. Từ đó, đồng bào ai cũng học tập theo và từng bước đẩy lùi được cái đói nghèo. Hiện, chính quyền địa phương đã hoàn tất mọi thủ tục hồ sơ và gửi về cơ quan có thẩm quyền, chờ kết quả công nhận Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân đối với ông Alăng Bhuốch”. Nếu thời hoa lửa tôi luyện ông thành người lính can trường, thì thời bình trao cho ông cơ hội để chứng minh bản lĩnh của một người kiến tạo. Và ông đã làm được: không ồn ào, không phô trương, chỉ bền bỉ như núi, dịu dàng như nước, và ấm áp như lửa.
Dấu ấn ông để lại vì thế không nằm trên trang sử khô cứng, mà sống trong hơi ấm văn hoá, trong nghĩa tình cộng đồng, và trong ý chí vươn lên của cả một vùng cao. Ông chính là minh chứng sáng ngời rằng:
“Chiến tranh không thể vùi lấp con người, hoà bình không thể làm con người ngừng cống hiến.”
Và hành trình của ông – từ bóng tối đôi mắt đến ánh sáng lý tưởng, từ mưa bom đến mưa nguồn, từ đói nghèo đến nghĩa tình no ấm – đã hoá thành khúc tráng ca thời hoa lửa còn vang mãi trong rừng già Quảng Nam.
Chúng ta vừa cùng nhau băng qua chặng đường huyền thoại của người anh hùng Alăng Bhuôch – một hành trình không chỉ đầy rẫy khói lửa chiến tranh, mà còn chất chứa ánh sáng của một ý chí phi thường. Từ thuở ban đầu xuất thân nơi núi rừng Tây Giang, chứng kiến bi kịch cá nhân và nỗi đau của buôn làng dưới làn bom đạn, đến quyết định dấn thân vào con đường cách mạng với câu tuyên thệ lịch sử: “Con mắt nằm ở đôi chân, ở cây gậy”. Câu chuyện ấy là minh chứng sống động rằng: Sức mạnh không nằm ở thị giác, mà nằm ở tầm nhìn của trái tim và lý tưởng.
Sự cống hiến của ông không dừng lại ở những chuyến gùi hàng sinh tử trên tuyến đường Trường Sơn, nơi ông từng cõng trên vai khối lượng vượt xa sức nặng cơ thể mình, biến chiếc gậy tre thành “ngọn cờ cắm vào từng ngọn đèn, từng con suối”. Ngay cả khi tiếng súng ngớt, ông lại trở thành người tiên phong thầm lặng, đưa nước sạch và mô hình lúa nước về cho đồng bào, dệt nên một “mặt trận dựng xây” bền bỉ, đẩy lùi đói nghèo nơi vùng cao.
Để khép lại những dòng cảm xúc chân thành, những lời kể chân thật và xúc động về cuộc đời của người lính Cơ Tu huyền thoại, tôi xin phép được kính tặng Ban Giám Khảo và Ban Tổ Chức bài thơ sau. Đây là nén hương tưởng niệm, là khúc tráng ca vọng mãi về Ngọn Lửa Trong Tim của một người đã dùng chính bóng tối của mình để soi rọi con đường độc lập cho Tổ quốc.
Ngọn Lửa Trong Tim 🔥
Trường Sơn đất mẹ bao la,
Mây giăng đỉnh núi, hương hoa đại ngàn.
Tây Giang, nơi gió mây ngàn,
Sinh ra người lính lẫy vang kiên cường.
Alăng Bhuôch trọn tình thương,
Thấm sâu hồn cốt, núi rừng Cơ Tu.
Sáu năm, số phận mịt mù,
Căn sởi ác nghiệt, sương lu mờ dần.
Đôi mắt tắt, chẳng còn phân,
Thế giới thu lại trong ngần âm thanh.
Gian nan, nghịch cảnh vẫn thành,
Ý chí sáng rực, tâm lành bền gan.
Nhưng rồi giặc Mỹ xâm tràn,
Ném bom xé nát buôn làng hiền hòa.
Đất rừng cháy lửa can qua,
Nước mắt đồng bào, xót xa tận cùng.
Trong tim căm hận bùng nhùng,
Bóng tối soi rọi, anh hùng đứng lên.
Lời thề sắt đá vang rền:
“Con mắt là gậy, là nền đôi chân!”.
Vượt lên số phận vạn phần,
Gùi hàng, cõng đạn, dấn thân chiến trường.
Huyền thoại người lính phi thường,
Là ngọn lửa thắp giữa đường Trường Sơn.
Câu chuyện ông mãi còn thơm,
Khúc tráng ca vọng, sắt son anh hùng!
Ngọn lửa Alăng Bhuôch bùng,
Soi đường thế hệ, ta cùng bước đi.


