Bài viết

NGƯỜI THỢ ĐIỆN QUẢNG NAM VÀ LỜI DẶN NƠI PHÁP TRƯỜNG

TP. Hồ Chí Minh30/10/2026xã Quế Sơn Trung (Đoàn xã Quế Sơn Trung)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thông tin nhân vật: Nguyễn Văn Trỗi (thường gọi là Tư Trỗi); sinh ngày 01/02/1940; hy sinh ngày 15/10/1964; quê quán: làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng (nay là phường An Thắng), thành phố Đà Nẵng, trước đây thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nơi hoạt động: Sài Gòn; nghề nghiệp: công nhân điện, chiến sĩ Biệt động thành.

Ở vùng đất Điện Bàn nắng gió, nơi những con đường làng quen thuộc với tiếng chân trần của người nông dân quanh năm lam lũ, có một ngôi làng nhỏ tên Thanh Quýt, nay thuộc phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng. Ngày 01 tháng 02 năm 1940, trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống cách mạng ở làng quê ấy, một cậu bé cất tiếng khóc chào đời. Cậu là con thứ ba trong nhà, nên người làng quen gọi bằng cái tên mộc mạc là Tư Trỗi. Chẳng ai biết rằng, hơn hai mươi năm sau, cái tên giản dị ấy sẽ vang lên khắp đất nước, rồi vượt qua cả đại dương để đến với bạn bè năm châu.

Tuổi thơ của Trỗi gắn liền với cái nghèo. Gia đình anh sống bằng ruộng đồng, bằng những buổi làm thuê quanh năm mà bữa cơm vẫn không đủ đầy. Cũng như bao đứa trẻ nông thôn thời ấy, cậu bé lớn lên sớm hơn tuổi của mình. Theo tìm hiểu từ gia đình anh, khi mới mười ba tuổi, Trỗi rời quê, ra Đà Nẵng học nghề may, nơi người anh trai là Nguyễn Văn Toàn đang làm việc cho một hãng bánh kẹo. Học nghề được ba năm, chàng thanh niên trẻ xuống tàu từ cảng Tiên Sa, vào Sài Gòn mưu sinh, nuôi một chí lớn trong lòng là cầm súng đánh giặc, giải phóng quê hương.

Về thời điểm anh vào Sài Gòn, các tài liệu còn ghi chép chưa hoàn toàn thống nhất. Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 cho biết năm 1954, khi vừa tròn mười bốn tuổi, anh theo người thân vào Sài Gòn tìm việc làm. Cũng có tài liệu viết rằng sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, gia đình anh vào Sài Gòn sinh sống. Trong khi đó, một bài báo khác lại kể rằng đến năm 1962, vì sợ trở thành gánh nặng cho anh chị, Nguyễn Văn Trỗi mới trốn vào Sài Gòn ở nhờ người anh họ là Nguyễn Hữu Kiếm tại Vườn Xoài để tìm kế sinh nhai. Dù ghi chép khác nhau đôi chút, tất cả đều gặp nhau ở một điểm: người thanh niên xứ Quảng ấy bước vào Sài Gòn với đôi bàn tay trắng, chỉ có sức trẻ và một trái tim biết thương, biết giận.

Những ngày đầu nơi đất khách, chưa có nghề trong tay, Trỗi đạp xích lô, đưa đón khách cả ngày lẫn đêm. Chiếc xích lô cũ kỹ chở anh đi qua những con phố đông đúc của thành phố lớn. Trên những con phố ấy, anh nhìn thấy cảnh lính Mỹ đi lại nghênh ngang, ăn chơi phè phỡn trong các quán bar, trong khi biết bao người dân nghèo vẫn vất vả từng bữa ăn. Từng cảnh một, từng ngày một, nỗi căm giận ngoại xâm lớn dần trong lòng người thanh niên Quảng Nam hiền lành, ít nói.

Anh không muốn đạp xích lô cả đời. Anh theo học nghề điện, rồi trở thành công nhân nhà máy điện Chợ Quán. Đôi tay quen chạm vào dây điện, quen xử lý những mối nối chính xác từng li, về sau chính là đôi tay được giao phó nhiệm vụ đặc biệt. Năm 1963, trong làn sóng đấu tranh sôi nổi của nhân dân Sài Gòn chống chế độ áp bức và sự can thiệp của Mỹ, anh được giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đoàn Thanh niên. Từ đó, anh trở thành một chiến sĩ trong tổ chức Biệt động thành, thuộc Đại đội quyết tử cánh Tây Nam Sài Gòn.

Trong những năm tháng ấy, tình yêu cũng đến với người thợ điện. Người con gái ấy là chị Phan Thị Quyên, sinh năm 1944, quê ở Điện Bàn. Từ năm mười sáu tuổi, chị đã vào Sài Gòn làm công cho một hãng xà bông. Hai người quen nhau giữa chốn đô thành xa lạ, cùng một quê, cùng chung nỗi nhớ làng. Họ nên duyên vợ chồng vào đầu năm 1964, trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, với một đám cưới giản dị của những người lao động nghèo. Không ai ngờ rằng, hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ sẽ chỉ kéo dài được vài tuần ngắn ngủi.

Đầu năm 1964, Sài Gòn chuẩn bị đón một vị khách đặc biệt. Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, sắp sang thăm miền Nam Việt Nam để bàn kế hoạch mở rộng chiến tranh. Lực lượng cách mạng quyết định phải giáng cho chuyến đi này một đòn. Địa điểm được chọn là cầu Công Lý, nơi đoàn xe của phái đoàn dự kiến sẽ đi qua. Nhiệm vụ đặt mìn tại cầu được giao cho Biệt động thành, và Nguyễn Văn Trỗi xung phong nhận nhiệm vụ ấy, dù lúc đó anh mới cưới vợ hơn mười ngày.

Có lẽ trong những ngày ấy, anh đã nghĩ rất nhiều về người vợ trẻ đang chờ ở nhà. Nhưng đối với người chiến sĩ biệt động, tình yêu đôi lứa và tình yêu Tổ quốc không đối lập nhau, mà hòa làm một. Anh hiểu rằng nếu quả mìn kia nổ thành công, sẽ có thêm một bước ngăn chặn kế hoạch của kẻ thù, và có thêm nhiều người dân được sống trong hòa bình. Anh và đồng đội chuẩn bị kỹ càng trong yên lặng. Rồi đến ngày thực hiện, họ lặng lẽ đặt quả mìn nặng khoảng tám ki-lô-gam cạnh cầu Công Lý. Song kế hoạch không may bị bại lộ. Nhóm của anh bị lực lượng an ninh Sài Gòn bắt giữ ngay khi vừa đặt xong quả mìn. Chiếc cầu Công Lý hôm ấy không có tiếng nổ nào vang lên, nhưng từ khoảnh khắc đó, tên tuổi của người thợ điện trẻ bắt đầu bước vào lịch sử.

Bị bắt, Trỗi phải đối mặt với những ngày tháng tàn khốc nhất của đời mình. Kẻ thù dùng đủ mọi đòn tra tấn, dụ dỗ, mua chuộc để buộc anh khai ra tổ chức, ra những người đồng chí khác. Chúng hứa hẹn, chúng đe dọa, chúng dùng cực hình, nhưng người chiến sĩ trẻ vẫn một mực im lặng. Để bảo vệ tổ chức cách mạng và đồng đội, Nguyễn Văn Trỗi kiên quyết không khai, nhận hết trách nhiệm về mình. Đối với anh, im lặng không phải là bất lực, mà là cách bảo vệ những người anh yêu thương.

Ngày 10 tháng 8 năm 1964, anh bị đưa ra tòa án quân sự của chính quyền Sài Gòn, cùng với đồng đội là Nguyễn Hữu Lời. Phiên tòa diễn ra trong không khí căng thẳng. Giữa vành móng ngựa, người thợ điện hai mươi bốn tuổi vẫn giữ vẻ bình thản, không chút khuất phục trước kẻ thù. Bản án tử hình được tuyên cho anh. Song với Nguyễn Văn Trỗi, bản án ấy không làm lung lay ý chí của một người đã chọn con đường của mình.

Tin về bản án lan nhanh ra ngoài biên giới. Từ miền Bắc đến những quốc gia xa xôi, người ta lên tiếng đòi chính quyền Sài Gòn không được hành quyết người thanh niên ấy. Phong trào đấu tranh đòi cứu anh nổi lên ở nhiều nơi trên thế giới. Có một chi tiết đã đi vào sử sách: ở Venezuela, lực lượng du kích đã đe dọa sẽ xử tử một trung tá Mỹ mà họ đang giữ nếu anh Trỗi bị xử bắn. Theo ghi chép, lời đe dọa ấy là: “Nếu ở Việt Nam xử bắn anh Trỗi thì một giờ sau ở Venezuela, quân du kích sẽ thủ tiêu trung tá Mỹ.” Áp lực quốc tế buộc phía Mỹ phải yêu cầu chính quyền Sài Gòn hoãn ngày hành hình. Sự kiện ấy cho thấy một người thợ điện nhỏ bé ở Sài Gòn đã khiến lương tri của bạn bè quốc tế cùng rung động, và tấm gương của anh đã vượt ra ngoài biên giới đất nước.

Trong những ngày chờ đợi bản án cuối cùng, người vợ trẻ Phan Thị Quyên được gặp chồng trong nhà giam. Cuộc gặp ngắn ngủi ấy ẩn chứa nỗi đau mà không lời nào nói hết. Một bên là người chồng biết mình sắp ra đi, một bên là người vợ mới cưới chưa kịp sống trọn những ngày yên ấm. Anh dặn dò vợ phải giữ gìn sức khỏe, hãy sống vững vàng, và thay anh phụng dưỡng những người thân yêu trong gia đình. Với những ai từng đọc những dòng ký ức của chị Quyên, đó là những lời nhắn nhủ đầy xúc động, vì ở đó người ta thấy một người con, một người chồng chứ không chỉ một người anh hùng.

Rồi ngày 15 tháng 10 năm 1964 đến. Hôm ấy, người thợ điện Quảng Nam bị đưa ra pháp trường. Báo chí sau này ghi lại rằng chỉ vẻn vẹn chín phút trên pháp trường, anh đã đi vào lịch sử kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như một biểu tượng của lòng quả cảm. Trước họng súng của kẻ thù, anh không nhắm mắt, không cúi đầu, cũng không xin tha. Anh ngẩng cao đầu, từ chối bịt mắt, và hô vang những khẩu hiệu cuối cùng: đả đảo đế quốc Mỹ, đả đảo bọn bán nước và cướp nước, Hồ Chí Minh muôn năm, Việt Nam muôn năm. Giữa tiếng hô ấy, anh để lại lời nhắn nhủ mà sau này cả dân tộc ghi nhớ: “Hãy nhớ lấy lời tôi!” Chỉ vài chữ ngắn ngủi ấy, nhưng đã trở thành di ngôn khắc sâu trong tâm trí bao thế hệ.

( AHLLVT Nguyễn Văn Trỗi trước khi bị xử bắn)

Người ta kể rằng trên pháp trường hôm ấy, ngay cả những người chứng kiến cũng không giấu nổi sự xúc động. Một thanh niên mới hai mươi bốn tuổi, vừa cưới vợ chưa đầy một năm, đối diện với cái chết mà không hề run sợ. Sự bình thản ấy đến từ một niềm tin sâu sắc rằng cái chết của mình là để đổi lấy hòa bình, độc lập cho người ở lại. Chính sự kiên cường ấy khiến tên tuổi Nguyễn Văn Trỗi bay xa hơn mọi bản án mà kẻ thù có thể tuyên.

Ngày anh hy sinh, đồng bào Sài Gòn và nhiều nơi trong cả nước đã lặng người xót thương. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau đó đã ghi trên tấm ảnh của anh những dòng chữ mà nhiều tài liệu còn lưu lại: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng.” Lời ghi của Bác không chỉ là sự tưởng nhớ dành cho một người chiến sĩ mà còn là sự ghi nhận lớn lao của Đảng và nhân dân đối với tấm gương của anh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn