Người thủy thủ kiên trung và ngọn cờ rực lửa trên Biển Đen
Tôn Đức Thắng – người cộng sản kiên trung, biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và đạo đức cách mạng, để lại tấm gương sáng cho các thế hệ Việt Nam.
Người thủy thủ kiên trung và ngọn cờ rực lửa trên Biển Đen
Mỗi khi lật lại những trang sử vàng chói lọi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và phong trào công nhân quốc tế, thế hệ hôm nay không khỏi nghiêng mình xúc động trước những tấm gương quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Giữa một thế hệ anh hùng bằng xương bằng thịt ngày ấy, cái tên Tôn Đức Thắng đã trở thành một biểu tượng bất tử cho ý chí kiên cường và lòng dũng cảm vô song. Sinh năm 1888 tại cù lao Ông Hổ, tỉnh An Giang, người con ưu tú của vùng đất Nam Bộ thành đồng đã sớm chứng kiến cảnh lầm than của người dân mất nước. Ngọn lửa căm thù giặc và tinh thần phản kháng đã sớm hun đúc trong lòng người thanh niên thợ máy ấy, đưa ông dấn thân vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ rất sớm, trước khi vượt trùng khơi sang Pháp và trở thành người thủy thủ yêu nước trên các chiến hạm viễn dương.
Bước vào giai đoạn hoạt động sục sôi của phong trào công nhân thế giới cuối thập niên 1910, Tôn Đức Thắng được biên chế làm thợ máy trên chiến hạm France của hải quân Pháp. Trận chiến đối mặt giữa lý tưởng chính nghĩa và bạo tàn bước vào giai đoạn quyết liệt nhất vào tháng 4 năm 1919, khi chính phủ Pháp điều động chiến hạm này tiến vào vùng Biển Đen nhằm can thiệp quân sự, hòng tiêu diệt Nhà nước Xô viết non trẻ vừa mới thành lập. Đứng trước mệnh lệnh tàn bạo của bộ chỉ huy Pháp, người thủy thủ Tôn Đức Thắng đã đưa ra một quyết định phi thường, lưu danh vào lịch sử cách mạng thế giới. Bất chấp hiểm nguy, đối mặt với án tử hình dành cho tội phản nghịch, ông đã cùng các thủy thủ yêu nước tổ chức phản chiến, rầm rộ nổi dậy ngăn chặn bàn tay đẫm máu của thực dân Pháp. Giữa biển khơi lộng gió, chính tay Tôn Đức Thắng đã kéo lá cờ đỏ búa liềm rực lửa lên đỉnh cột cờ chiến hạm để biểu thị tình đoàn kết quốc tế vô sản, ủng hộ cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, buộc hạm đội Pháp phải rút lui.
Trở về nước chỉ đạo phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn, đến năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt giữ và kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra "địa ngục trần gian" Côn Đảo. Cuộc chiến trong hầm ngục bước vào giai đoạn tàn khốc nhất khi kẻ thù dùng mọi cực hình tra tấn dã man hòng khuất phục người chiến sĩ cộng sản. Nhưng tại nơi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau một sợi chỉ, Tôn Đức Thắng đã thể hiện một bản lĩnh kiên định và nghị lực siêu phàm. Ông biến nhà tù thành trường học cách mạng, thành lập chi bộ Đảng và hiên ngang đứng đầu các cuộc đấu tranh tuyệt thực đòi quyền sống cho tù nhân. Khi bị giặc phạt giam vào hầm xay lúa – nơi bóc lột sức lao động dã man nhất nhằm mượn tay các tù phạm lưu manh đánh chết người cộng sản – ông không hề sợ hãi, ngược lại còn dùng sự cảm hóa, tình thương và đức độ để biến những người tù lầm lỗi thành đồng chí của mình, giữ trọn khí tiết sắt son suốt 15 năm ròng rã xiềng xích cho đến ngày cách mạng thành công giải phóng Côn Đảo.
Sự hy sinh quên mình, lòng trung thành vô hạn và cuộc đời hoạt động mẫu mực của Bác Tôn – tên gọi trìu mến mà nhân dân dành cho ông – đã làm lay động toàn bộ phong trào cách mạng, trở thành tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cho bao thế hệ Việt Nam. Với những cống hiến vĩ đại, ông vinh dự được Đảng, Nhà nước giao trọng trách làm Chủ tịch nước kế nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cao quý. Đối với lịch sử dân tộc, tấm gương của Tôn Đức Thắng là lời khẳng định đanh thép cho ý chí kiên trung, bất khuất, là biểu tượng trọn vẹn của tinh thần đại đoàn kết dân tộc và tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Đối với thế hệ hôm nay, cái tên Tôn Đức Thắng chính là ngọn đuốc soi đường về bản lĩnh kiên định trước mọi thử thách, bài học sâu sắc về lối sống giản dị, khiêm tốn và lòng yêu nước thiết tha, nhắc nhở mỗi người trẻ không ngừng rèn luyện tư cách, đạo đức để cống hiến hết mình cho công cuộc xây dựng đất nước ngày một phồn vinh, vững bền.



