Ông là người có khả năng tổng kết trận đánh và nâng lên thành chiến thuật, thành những cách đánh hiệu quả cho MiG-21 giành thắng lợi. Phi công Anh hùng Nguyễn Văn Cốc - người bắn rơi 9 máy bay Mỹ gọi ông là “Cha đẻ của chiến thuật Không quân Việt Nam”. Còn khi tôi có dịp gặp Trung tướng Trần Hanh - phi công tiêm kích, Anh hùng lực lượng vũ trang - người có thời gian dài sông vói ông Trần Mạnh ở Trung đoàn Không quân Sao Đỏ và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không- Không quân thì Trung tướng Trần Hanh nói với tôi: “Anh Trần Mạnh ít người biết lắm và ít người viết lắm. Cậu viết được là tốt đấy!”
Ông như một vị nhạc trưởng của dàn nhạc, là người kiến tạo nên thắng lợi của các trận đánh.
Nhà báo Vũ Thành đã viết về ông: “Nếu như mỗi chiến công bắn rơi máy bay Mỹ, các phi công và chỉ huy được tặng một Huân chương thì ngực áo của Trần Mạnh - người chỉ huy gần 100 trận không chiến thắng lợi, chắc không còn chỗ để đeo Huân chương...”
Suốt trong 46 năm công tác và hoạt động của mình, ông đã trải qua 3 giai đoạn ở 3 lĩnh vực 'khác nhau: là lính bộ binh, Chính ủy Trung đoàn thời kháng chiến chống Pháp, là phi công tiêm kích, là người lãnh đạo chỉ huy của nhiều đơn vị trong Không quân thời chống Mỹ rồi là Tổng Cục trưởng Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Giai đoạn nào ông cũng để lại những dấu ấn đặc biệt và như một người luôn gắn liền với những thời điểm có những bước chuyển đổi, bước ngoặt quan trọng.
Bệnh tật đã cướp ông đi ở cái độ chưa đến tuổi “cổ lai hy” trong niềm tiếc thương, đau xót của những người thân, đồng đội và đồng nghiệp của ông. Tôi luôn nghĩ ông là một người chỉ huy - một vị tướng có TÂM, có TẦM và có TÀI.
Xin được trân trọng giới thiệu cùng các bạn đọc về người phi công tiêm kích - người chỉ huy tài năng ấy.
Xin cám ơn gia đình, người thân cùng đồng đội, đồng nghiệp của ông Trần Mạnh đã cung cấp cho tôi những tư liệu, những thông tin quý giá, đã động viên tôi hoàn thành cuốn sách này và xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của ông.
Có thể, trong quá trình biên soạn còn có những thiếu sót. Rất mong nhận được những lời góp ý và chia sẻ cùng tác giả.
Trân trọng cám ơn!
TÁC GIẢ | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Người tìm chìa khóa vàng« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2016, 07:39:28 am » |
1. NGUỒN CỘI Khi cậu bé Mai Cao Đa cát tiếng khóc chào đời tại thành phố Đà Lạt thơ mộng, lúc đó không một ai nghĩ được rằng sau này cậu bé ấy lợi trờ thành Chính ủy Trung đoàn, rồi thành một phi công tiêm kích và hơn thế nữa, lại là một “kiến trúc sư” của các trận không chiến.
Tôi mời các bạn đọc đi ngược dòng lịch sử một chút - về với phong trào Cần Vương.
Phong trào cần Vương nổ ra vào cuối thế kỷ XIX, do đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị Hoàng đế trẻ Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp.
Cần Vương mang ý nghĩa là “giúp vua”. Trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, trước thời nhà Nguyễn từng có những lực lượng nhân danh giúp nhà vua phát sinh như ở thời Lê sơ, các cánh quân đã hưởng ứng lòi kêu gọi của vua Lê Chiêu Tông chống lại quyền thần Mạc Đăng Dung. Tuy nhiên, phong trào này không để lại nhiều dấu ấn và khi nhắc tới Cần Vương, mọi người thường hiểu đấy là phong trào chống Pháp xâm lược.
Phong trào cần Vương do Tôn Thất Thuyết khởi xướng đã thu hút được một số quan lại trong triều đình và văn thân. Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giò. Phong trào Cần Vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứng “Chiếu cần Vương” của vua Hàm Nghi, kéo dài 11 năm, từ năm 1885 cho đến năm 1896.
Sau cuộc tấn công tại kinh thành Huế thất bại, đại thần Tôn Thất Thuyết - một người thuộc phe chủ chiến đã đưa vua Hàm Nghi ra ngoài thành và phát hịch Cần Vương chống Pháp. Bấy giờ, người Pháp dựng vua Đồng Khánh lên ngôi tại Huế. Ngoài cuộc khởi nghĩa Cần Vương của vua Hàm
Nghi, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn còn có các cuộc khỏi nghĩa khác hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi là:
- Nghĩa hội Quảng Nam của Nguyễn Duy Hiệu.
- Khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương Khê - Hà Tĩnh.
- Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An.
- Khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga Sơn - Thanh Hóa.
- Khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định.
- Khởi nghĩa Hùng Lĩnh của Tống Duy Tân ở Bá Thước và Quảng Xương - Thanh Hóa.
- Khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên.
- Phong trào kháng chiến ở Thái Bình, Nam Định của Tạ Quang Hiện và Phạm Huy Quang.
- Khởi nghĩa Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và Yên Bái.
- Khởi nghĩa Sông Đà của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa Bình.
Đêm 30 tháng 10 năm 1888, vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt trong lúc mọi người đang ngủ say. Bắt được vua Hàm Nghi, thực dân Pháp ra sức dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc nhà vua trẻ cộng tác với chúng, nhưng vua Hàm Nghi đã từ chối quyết liệt. Không mua chuộc được vua Hàm Nghi, thực dân Pháp liền đưa ngài đi an trí tại Angieria - một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi (châu Phi), thực chất là đi đày.
Vua Hàm Nghi bị bắt nhưng các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp vẫn tiếp tục. Tuy nhiên, phong trào cần Vương suy yếu dần, từng cuộc khởi nghĩa lần lượt bị tiêu diệt: từ cuối năm 1895 đến đầu năm 1896, khi tiếng súng cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại thì phong trào Cần Vương coi như chấm dứt hẳn.
Trong tất cả các cuộc khởi nghĩa cần Vương hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi, tôi lưu tâm nhất đến cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định. Trong cấp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Bình Định ấy thì thực dân Pháp và tay chân của chúng, đặc biệt là Trần Bá Lộc, sợ nhất là Nguyên soái Mai Xuân Thưởng, Đại tướng Nguyễn Cang và Thống binh Nguyễn Hóa. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Người tìm chìa khóa vàng« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2016, 07:42:17 am » |
Tôi xin được nói kỹ hơn về vị Nguyên soái Mai Xuân Thưởng.
Mai Xuân Thưỏng là ngưòi thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tay Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Cha ông là Mai Xuân Tín, từng làm bố chính tỉnh Cao Bằng. Mẹ là bà Huỳnh Thị Nguyệt, con một nhà quyền quý trong làng.
Thuở nhỏ, ông thông minh, ham học. Năm lên 6 tuổi, cha mất sớm. ông lớn lên dưới sự nuôi dạy của mẹ và của tú tài Lê Duy Cung, nên ông giỏi cả văn lẫn võ. Năm 1878, Mai Xuân Thưởng thi đỗ tú tài.
Đầu tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), nổ ra cuộc phản công của phe chủ chiến ở kinh thành Huế. Khi ấy ở Bình Định đang diễn ra cuộc thi Hương. Đến khi nghe tin Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, xuống dụ Cần Vương, mấy nghìn sĩ tử liền bỏ thi, trở về quê tụ nghĩa. Ở lại thi tiếp chỉ còn có 8 người và tất cả đều trúng tuyển cử nhân, trong số đó có Mai Xuân Thưởng.
Giai thoại có một chi tiết là: Khi ban áo mão, quan chánh chủ khảo tặng 8 ông tân khoa một bài thơ luật Đường như sau:
Sơn hà phong cảnh dị tiền niên Hoành khán du khan thủ địa huyền Hậu mãn xương môn trần ảm ngoại Lệ linh văn viện bút đình biên Lịch truyền giáo dục ân như hải Bát giải thinh danh thẩm thị tiên Nhất dự y quan nan tự ủy Cương thường khán tủ cổ anh hiền
Tạm dịch:
Non sông rày đã khác xưa Gương nêu tài tuấn còn nêu chôn này Hận tràn, cung khuyết bụi bay Tay cam dừng bút, lệ đầy viện văn Bao triều tắm gội biển ân Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao Cân đai trót đã dự vào Cương thường noi dấu anh hào soi chung
Tương truyền rằng, trước khi khảo lại các quyển thi, quan chánh chủ khảo nằm mộng thấy một bà lão cầm tặng cho ông một nhành mai trắng chỉ trổ một bông nhụy vàng, cánh trắng, mùi hương tỏa nhẹ nhàng. Viên quan vừa đưa tay nâng thì hoa rụng vào nghiên bút và bà lão biến mất. Viên quan giật mình tỉnh dậy, bâng khuâng không biết đấy là ứng vào điềm gì.
Khi xét thấy trong 8 ông cử nhân có một ông họ Mai và xem lại quyển văn thì thấy văn chương có khí phách liền đoán rằng điềm ứng vào Mai Xuân Thưởng nên sau khi ban áo mão xong, quan mời riêng Mai Xuân Thưỏng vào dặn:
- Lúc này nước nhà mất, một phần lớn do nơi đám sĩ phu. Cho nên làm việc gì cũng phải hết sức thận trọng.
Mai Xuân Thưởng lĩnh ý lui ra, trở về quê Phú Lạc chiêu mộ nghĩa sĩ, lập căn cứ ở Hòn Sưng (nay thuộc thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn).
Khi ấy, nguyên Tổng đốc Đoàn Doãn Địch sau khi về Bình Định truyền hịch Cần Vương cũng đã chiêu mộ được khoảng 600 nghĩa quân rồi đóng quân ỏ thôn Tùng Giản (nay thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước). Từ đó cho đến năm 1887, phong trào Cần Vương ở Bình Định diễn ra rất sôi nổi và lan nhanh đến Quảng Ngãi, Phú Yên... lôi kéo hàng ngàn người thuộc mọi tầng lớp tham gia.
Giữa tháng 7 năm 1885, chủ tướng Đoàn Doãn Địch tổ chức đánh chiếm thành tỉnh Bình Định. Trừng trị viên quan thân thực dân Pháp là Tổng đốc Lê Thận xong, quân của ông còn kéo nhau đi đánh phá các làng theo đạo Thiên Chúa giáo. Từ Quy Nhơn, quân Pháp kéo lên đàn áp. Đoàn Doãn Địch dàn quân kháng cự. Hai bên giao tranh dữ dội ở Trường Úc và Phong Niên. Trước hỏa lực mạnh, lực lượng của Đoàn Doãn Địch bị đánh tan, buộc vị thủ lĩnh phải rút chạy về đại bản doanh của Mai Xuân Thưởng lúc này đang đặt tại Lộc Đổng (Đồng Hươu) ở thôn Phú Phong (huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định).
Tháng 9 năm đó, Đoàn Doãn Địch lâm bệnh mất. Trước đấy, khi Mai Xuân Thưởng ứng nghĩa, Đoàn Doãn Địch đã phong ông làm Tán tương quân vụ. Nay trước khi mất, ông cử Mai Xuân Thưởng lên làm Nguyên soái thay mình.
Sau khi làm lễ tế cờ tại Lộc Đổng, Mai Xuân Thưỏng cho xuất quân và giao chiến với đối phương nhiều trận tại cẩm Vân, Phú Thiện, Hòn Kho (Tiên Thuận). Hồi này, theo giúp sức Mai Xuân Thưởng có các ông: Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Bùi Điển, Đặng Đề, Nguyễn Hóa, Lê Thượng Nghĩa, Hồ Tá Quốc, Võ Đạt... cùng hàng ngàn sĩ phu và nhân dân các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận... | |
Logged
|
|
|
|
gamma2 Thành viên  Bài viết: 19  | 
| Re: Người tìm chìa khóa vàng« Trả lời #4 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2016, 11:57:07 am » | Chào bác Giangtvx, chúc mừng bác bắt tay vào số hoá " Người tìm chìa khoá vàng", chúc bác nhiều sức khoẻ và niềm vui trong công việc đã định và trong cuộc sống. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Người tìm chìa khóa vàng« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2016, 10:10:24 pm » |
Để động viên tinh thần binh sĩ và cũng là để nói lên chí khí của mình, Mai Xuân Thưởng từng viết bài thơ trong khi chiến đấu như sau:
Chết nào có sợ, chết như chơi Chết bởi vì dân, chết bởi thời Chết hiếu chi nài xương thịt nát Chết trung bao quản cổ đầu rơi Chết nhân tiếng để vang nghìn thuở Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời Thà chịu chết vinh hơn sống nhục Chết nào có sợ, chết như chơi!
Nhận thấy lực lượng của Mai Xuân Thưởng ngày càng lớn mạnh và đã gây ra nhiều thiệt hại cho mình, Soái phủ Sài Gòn liền điều Thiếu tá De Lorme đem pháo thuyền án ngữ biển Quy Nhơn, đồng thòi sai Trần Bá Lộc mang quân từ Khánh Hòa đánh ra, Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh vào. Nhờ có pháo binh yểm trợ, hai cánh quân này nhanh chóng gặp nhau tại Bình Định rồi cùng tiến lên Phú Phong mặc sức tàn phá.
Tháng 3 năm 1887, sau trận ác chiến ở Bàu Sấu (An Nhơn), Mai Xuân Thưởng bị thương nặng phải cho rút tàn quân vào Linh Đỗng (núi Phú Phong) ẩn náu, tính kế lâu dài.
Rồi Mai Xuân Thưởng bị bắt vào ngày mồng 4 tháng 5 năm 1887. Sau ông, những thủ lĩnh cuối cùng như Nguyễn Ngọc Loan, Lê Khanh... cũng bị bắt hết.
Trần Bá Lộc dụ hàng. Mai Xuân Thưởng khẳng khái nói:
- Chỉ có đoạn đầu tướng quân chứ không có hàng đầu tướng quân!
Biết không thể khuất phục được ông, chúng đã đưa ông cùng các thuộc hạ ra xử trảm tại Gò Chàm (phía đông thành Bình Định cũ). Trước lúc bị hành hình, ông còn khẳng khái đọc bài thơ:
Không tính làm chi việc mất còn Nợ trai lo trả ấy là khôn Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước Đá tạc lòng trung quý mấy hòn Tái ngắt mặt gian xương tợ giá Đỏ lòe bìa sách mấu là son Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới Một nhánh mai già nảy rậm non!
Thi hài ông sau đó được đưa về an táng tại Cây Muồng (nơi cha ông đã yên nghỉ), thuộc thôn Phú Lạc.
Năm 1961, nhà thơ Quách Tấn và nhiều người dân đứng ra vận động xây dựng lăng mộ nhà Mai Xuân Thưởng và các lãnh tụ cần Vương khác của quê hương Bình Định.
Ngày 22 tháng 1 năm 1961, nhân dân Tây Sơn làm lễ đưa hài cốt ông từ Phú Lạc về lăng mộ trên một quả đồi cao thuộc thôn Hòa Sơn, xã Bình Tường. Đây cũng chính là căn cứ mà lúc sinh thời, ông dựng cờ khởi nghĩa.
Sau khi Mai Xuân Thưởng cùng gia đình và các thuộc hạ của ông bị xử trảm, để tránh bị truy nã và sát hại, dòng họ Mai Xuân đã phải đổi thay danh tính, trong đó có một chi đã chuyển từ Mai Xuân thành Mai Cao như chi của cụ Mai Cao Chí.
Cụ Mai Cao Chí chuyển gia đình đến sinh sống tại xã Vĩnh Lai.
Cụ Mai Cao Chí sinh thời nổi tiếng là một thầy thuốc giỏi, chữa giúp cho nhiều người, được mệnh danh là “thầy thuốc mát tay”. Cụ cũng là một họa sĩ, điêu khắc nổi tiếng. Tác phẩm của cụ từng đoạt giải thưởng khi tham dự “Hội chợ thuộc địa” tổ chức tại Pháp (Marseille) vào năm 1922. Phía Pháp tính trợ cấp học bổng cho cụ để đưa cụ sang Pháp học, nhưng cụ từ chối. Tác phẩm của cụ vẫn còn được trưng bày ở một bảo tàng Marseille, Pháp. Một người trong dòng họ nhà cụ đã thấy và khẳng định vậy.
Cụ có 2 người con là Mai Cao Lương và Mai Cao Đống.
Ông Mai Cao Lương được người trong vùng gọi là ông Trợ Lương, làm nghề dạy học và cũng rất giỏi nghề hát bội, từng là thầy dạy của nhà thơ Quách Tấn. Con của ông Mai Cao Lương là Mai Cao Chương - Giáo sư, Trưởng khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng (công trình nghiên cứu và dịch thuật đáng chú ý nhât là tập sách Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn (viết chung với Đoàn Lê Giang, NXB. Khoa học xã hội, 1996) và bộ tiểu thuyết truyền kỳ Kim cổ kỳ quan (NXB. Tổng hợp Đồng Tháp).
Ông Mai Cao Đống vốn là kỹ sư công chánh, làm nghề thầu xây dựng nên thường nay đây mai đó theo các công trình của Pháp thuộc. Ông rất giỏi tiếng Pháp, có thể dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp và luôn tự hào là người giỏi chữ Pháp hơn người Pháp.
Vào giai đoạn đầu những năm 1920, khi người Pháp khảo sát các địa điểm nghỉ dưỡng trên đất nước ta xong, họ triển khai xây dựng thành phố Đà Lạt với phong thái kiến trúc như một “tiểu Paris của phương Đông”. Mai Cao Đông đã tham gia xây dựng nhiều công trình, trong đó có khách sạn Dalat Palace và nhiều căn biệt thự theo trường phái une architecture indochinoise của kiến trúc sư ngưòi Pháp Ernest Hebrard, bên bờ hồ Xuân Hương. |
|
|