NGƯỜI TÌNH TÌNH BÁO NHÂN DÂN – TƯ CANG
28 năm đi qua cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cuộc đời hoạt động tình báo của Tư Cang sôi nổi nhất trong khoảng 10 năm, từ 1961 đến 1973. Trong đó, khoảng tháng 4/1962 tới 1971, Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang) phụ trách cụm tình báo H.63, cụm tình báo phục vụ hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn (tức Hai Trung).
Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân đội vào trực tiếp xâm lược miền nam Việt Nam. Cấp trên chỉ thị, Nguyễn Văn Tàu khi đó mang hàm Thiếu tá phải vào thành, vì có nhiều diễn biến phức tạp. Năm 1966, ông rời Củ Chi, về ở nhà bà Tám Thảo, bắt đầu
cuộc đời tình báo trong nội thành. Nhiệm vụ của ông, là kết nối đường dây với ông Phạm Xuân Ẩn.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cụm tình báo H63 có tất cả 45 người, trong đó có 27 người hy sinh và những người còn lại, ai cũng bị thương. Tư Cang bảo, ông nhiều phen chết hụt. Phen nào cũng nhớ đời nhưng số ông vẫn may không bị bắt hay chết vì bom đạn. Bởi thế, trong những lúc cao hứng kể về cuộc đời làm tình báo của mình và đồng đội, có lúc ông lặng người đi khi thương nhớ “Hai Thương bị cưa chân, Lâm bị địch bắt tại Hóc Môn, tra tấn tại chỗ rồi đưa ra nhà tù Phú Quốc đánh đến chết”. Để giữ cụm H63 đứng vững trước nhiều phen sóng gió, các ông đều có một triết lý sống "coi như đã chết". Tinh thần thép, ý chí sắt đá, sẵn sàng hy sinh là kim chỉ nam hành động, để rồi dù có người bị bắt, đường dây chưa hề bị lộ; dù có những nhiệm vụ muôn phần hiểm nguy có thể bị bắt cả cụm nhưng cũng chưa từng bị đứt đoạn đường dây thông tin.
Sau mấy năm hoạt động, những người trong đường dây H63 đều được rút lui. Già nửa năm 1973, cấp trên rút Tư Cang về làm Phó Chính ủy Phòng Tình báo miền. Sau đó, ông được ra Hà Nội học chính trị với mục tiêu đến năm 1976 trở về giải phóng thành phố. Những ngày tháng ở Đông Anh, Hà Nội, ngóng về phương nam, nghe tin tức mặt trận sục sôi khí thế chiến thắng, ông sốt ruột mong mỏi có tia hy vọng được trở về Sài Gòn. Và ngày ấy, cuối cùng cũng đến thật.
Trong cuốn “Nước mắt ngày gặp mặt”, Tư Cang có viết lại cảm xúc khi được Tổng cục Chính trị có chỉ thị gọi về Hà Nội để trở về chiến trường rằng: “Người tôi lâng lâng như trong một giấc mơ đẹp”.
Chuyến này trở về, ông không còn là sĩ quan tình báo với nhiệm vụ lấy tài liệu địch, thu thập tình hình mà là một sĩ quan chỉ huy đơn vị tác chiến, chỉ huy những anh chị em mà ông đã từng rất mến phục.
Sau này, ông có hỏi cấp trên gọi ông về miền nam với nhiệm vụ gì, cấp trên nói: “Dương Văn Minh sắp đầu hàng, chúng ta phải chuẩn bị phương án đánh đường phố. Nếu Dương Văn Minh không đầu hàng, thì chúng ta phải đánh bằng pháo binh, biệt động để chiếm lấy thành phố”. Tư Cang rành đường đi lối lại, được giao chỉ huy lữ đoàn đặc công đóng tại Hóc Môn, có nhiệm vụ tấn công vào cơ quan Bộ tổng tham mưu.
Thời gian này, ông là Chính ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động 316, nhận nhiệm vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc để cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30/4/1975. Trong trận chiến đó, hơn 200 chiến sĩ của Lữ đoàn 316 đã đương đầu với hàng nghìn lính ngụy được trang bị vũ khí hiện đại và đã có 52 chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại dưới lòng sông. Ông nhớ như in cảnh bà con tràn ra đường chào mừng đoàn quân cách mạng, nhớ cả hình ảnh lính ngụy chạy lếch thếch, vừa chạy vừa lột giày, nón, cởi quần áo binh lính vất bừa bãi, tan rã như bèo bọt. Gặp các cán bộ đang làm nhiệm vụ tại từng khu phố, ông không quên dặn dò các đồng chí thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, giữ đúng các chính sách mà Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam đã ban hành, nhất là chính sách đối với tù hàng binh, chính sách chiến lợi phẩm.
Sau này, tất cả những câu chuyện về thời gian hoạt động được ông viết thành sách. Từ “Sài Gòn Xuân Mậu Thân 1968”, “Nước mắt ngày gặp mặt”, “Trái tim người lính”, “Tình báo kể chuyện”… mọi câu chuyện về hoạt động tình báo, về đồng đội, về gia đình thân yêu… được ông nắn nót viết lại đầy cảm xúc chân thực.
Cụm tình báo H63 có tất cả 45 người thì 27 người đã hy sinh để bảo vệ mạng lưới tình báo chiến lược. Trong hơn 10 năm hoạt động, hàng trăm báo cáo từ H63 đã được mã hóa rồi chuyển tiếp thành những thông tin chính xác, kịp thời giúp chỉ huy đưa ra những quyết định đúng đắn, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.



