NGƯỜI TRỞ VỀ TỪ BUỔI SÁNG TRUÔNG BỒN
NGƯỜI TRỞ VỀ TỪ BUỔI SÁNG TRUÔNG BỒN
Nhân chứng: Bà Trần Thị Thông, sinh năm 1946, quê xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nguyên Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, Đại đội 317, Đội 65, Tổng đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước tỉnh Nghệ An; nhân chứng duy nhất còn sống sau trận bom sáng 31/10/1968 tại Truông Bồn.
Mỗi lần trở lại Truông Bồn, bà Trần Thị Thông thường đứng rất lâu trước khu mộ chung của đồng đội. Mái tóc người nữ Tiểu đội trưởng năm xưa đã bạc, lưng không còn thẳng, nhưng bà vẫn nhớ từng gương mặt, từng tiếng nói của những người đã cùng mình đi qua tháng ngày khốc liệt.
Năm 1965, khi vừa tròn mười chín tuổi, cô gái Trần Thị Thông ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành làm đơn tham gia thanh niên xung phong. Thấy con gái nhỏ người, mẹ bà lo lắng, bảo ở nhà thêm vài năm rồi hãy đi. Nhưng bà nghĩ đất nước đang có chiến tranh, thanh niên ai cũng ở nhà thì lấy ai mở đường cho xe ra mặt trận.
Những ngày đầu, bà làm nhiệm vụ tại nhiều trọng điểm trên đất Nghệ An như cầu Cấm ở Nghi Lộc, rú Đụn ở Nam Đàn. Công việc của thanh niên xung phong là san lấp hố bom, sửa đường, vận chuyển hàng hóa và hướng dẫn những đoàn xe đi qua trong đêm. Có đoạn đường tối quá, các chị dùng bẹ chuối sáng màu đặt dọc lối đi để lái xe nhận biết phần đường an toàn.
Đầu năm 1967, Đại đội 317 được điều đến Truông Bồn, đoạn đường dài khoảng 5 kilômét trên tuyến chiến lược 15A, thuộc xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương. Đây là nơi nối các tuyến giao thông từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Bởi vậy, máy bay Mỹ liên tục đánh phá nhằm cắt đứt con đường chi viện.
Ban ngày, cả khu vực gần như không lúc nào yên tiếng máy bay. Đất đá bị xới tung, cây cối trơ cành. Đêm xuống, thanh niên xung phong lại có mặt trên đường. Người cầm cuốc, người xúc đất, người khiêng đá, người đứng làm cọc tiêu dẫn xe. Hố bom vừa được lấp xong, có khi trận đánh tiếp theo lại tạo thành những hố sâu mới.
Bà Thông được giao làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, đơn vị thường được gọi là “Tiểu đội thép”. Trong tiểu đội có những người quê Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Diễn Châu, Hưng Nguyên. Phần lớn còn rất trẻ. Giữa chiến trường, họ coi nhau như anh chị em trong một nhà. Chiếc lược nhỏ, mảnh gương, lá thư quê hay phần cơm ít ỏi đều được sẻ chia.
Cuối tháng 10/1968, nhiều người trong tiểu đội đã hoàn thành thời hạn làm nhiệm vụ. Có người nhận được giấy báo đi học, có người đang mong ngày trở về chăm sóc cha mẹ. Nhưng trước khi chia tay Truông Bồn, cả tiểu đội xin làm thêm một buổi cuối, sửa lại đoạn đường thật phẳng để đoàn xe đi qua an toàn.
Rạng sáng 31/10/1968, đơn vị nhận lệnh khẩn trương giải phóng mặt đường trước khi trời sáng. Mọi người làm việc từ lúc sương còn phủ dày. Đất đá được chuyển đi, những chỗ lầy được san lại, từng chiếc xe lần lượt vượt qua trọng điểm.
Khoảng hơn sáu giờ sáng, khi công việc gần hoàn thành, máy bay Mỹ bất ngờ lao đến. Tiếng bom trùm lên cả khu vực. Sau trận đánh, đất đá phủ kín đoạn đường. Đồng đội và các lực lượng có mặt tại Truông Bồn lập tức tìm kiếm Tiểu đội 2.
Bà Thông được phát hiện và đưa ra khỏi lớp đất đá nhờ một phần khẩu súng nhô lên. Bà là người duy nhất còn sống trong đội hình 14 người. Mười ba đồng đội của bà, gồm 11 nữ và 2 nam, đã không thể trở về.
Nỗi đau ấy không thể kể hết bằng lời. Những người mới ít phút trước còn làm việc bên nhau, còn gọi tên nhau giữa màn sương, nay đã nằm lại trong lòng Truông Bồn. Người lớn tuổi nhất mới ngoài hai mươi, người nhỏ tuổi nhất mới mười bảy. Những dự định học tập, những lời hẹn trở về và những ước mơ bình dị đều dừng lại trong buổi sáng cuối tháng Mười ấy.
Sau chiến tranh, bà Thông trở về đời thường nhưng ký ức về đồng đội chưa bao giờ rời khỏi tâm trí. Bà nhớ người hay hát, người ít nói, người thường nhường phần cơm cho bạn. Bà không muốn 13 đồng đội chỉ còn là những cái tên trên bia đá. Bởi phía sau mỗi cái tên là một con người từng có gia đình, quê hương và những ước mơ rất đỗi bình thường.
Ngày 23/9/2008, tập thể 14 chiến sĩ thanh niên xung phong Truông Bồn được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Với bà Thông, phần thưởng ấy thuộc về cả tiểu đội, nhất là 13 người đã gửi lại tuổi xuân trên tuyến đường 15A.
Truông Bồn hôm nay đã xanh trở lại. Trên những quả đồi từng bị bom đạn cày xới, cây cối đã mọc lên. Đường sá rộng hơn, xe cộ đi qua trong bình yên. Mỗi lần nghe tiếng cười của học sinh về tham quan khu di tích, bà Thông lại thấy sự hy sinh của đồng đội mình được thế hệ sau trân trọng.
Bà chỉ mong các cháu hiểu rằng những thanh niên xung phong năm ấy cũng từng trẻ trung, hồn nhiên như các cháu hôm nay. Họ không sinh ra để trở thành những con người phi thường. Chính tình yêu quê hương, tình đồng đội và trách nhiệm trước đất nước đã giúp họ làm được những việc phi thường.
Trước khu mộ chung, người Tiểu đội trưởng năm xưa vẫn lặng lẽ gọi đồng đội bằng những cái tên thân thuộc. Hơn nửa thế kỷ đã qua, bà là người trở về để kể tiếp câu chuyện của 13 người ở lại. Nhờ lời kể ấy, tuổi hai mươi của họ vẫn còn mãi trên đất Truông Bồn.



