Nguyễn An Ninh và người vợ "Cùng anh đi suốt cuộc đời"
Nguyễn An Ninh sinh ngày 15/9/1900 ở xã Long Thượng, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn, nay là tỉnh Long An. Cha ông là Nguyễn An Khương, người ở Quán Tre, huyện Hóc Môn. Nguyễn An Khương là một nhà văn có tinh thần yêu nước, tinh thông Hán học cũng như chữ Quốc ngữ.
Chú ruột của Nguyễn An Ninh là ông Nguyễn An Cư, cũng là một nhà văn, một Đông y sĩ nổi tiếng. Cả cha và chú của Nguyễn An Ninh đều được nhiều người trong nước quý trọng. Nguyễn An Ninh theo học ở trường Taberd, Collège Mỹ Tho rồi Trường Chasseloup Laubat, nay là trường THPT Lê Quý Đôn ở Sài Gòn.
Năm 1915, khi mới 15 tuổi, Nguyễn An Ninh đã được nhận làm biên tập cho tờ Courrier Saigonnais. Năm sau, nhờ tốt nghiệp trung học với bằng ưu nên ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược và được miễn chuẩn bằng tú tài.
Tuy nhiên, học được nửa năm, Nguyễn An Ninh quyết định chuyển sang học luật. Năm 1918, Nguyễn An Ninh sang Paris, Pháp để tiếp tục học luật tại Đại học Sorbonne. Hai năm sau, ông đã hoàn thành chương trình học tập và được cấp bằng cử nhân Luật hạng xuất sắc.
Trong thời gian ở Paris, Nguyễn An Ninh liên hệ với những chí sĩ đương thời như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc. Hoạt động của năm người đã tạo được uy tín với kiều bào tại Pháp nên còn được gọi là nhóm “Ngũ Long”.
Ngày 5/10/1922, Nguyễn An Ninh về nước. Lần đầu tiên, Nguyễn An Ninh ra mắt công chúng Nam Kỳ tại Hội khuyến học Nam Kỳ số 34 đường Aviateur Garros, nay là đường Thủ Khoa Huân vào lúc 20 giờ ngày 25/1/1923 với một bài diễn thuyết có tên là “Chung đúc học thức cho dân An Nam” để kêu gọi người dân Việt hãy mau “noi theo cái học thức Pháp, đặng mở mang trí dân, rộng tư tưởng của dân, làm cho giòng giống tráng kiện, mau thoát cái ách nô lệ.
Bằng cứ theo nẻo hoạn đồ, lấy việc làm quan là mục đích của việc học thì hỡi ơi! Sau này giòng giống sẽ yếu ớt, ắt có ngày kia rút vô rừng mà ở!”. Đến ngày 22/2/1923, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần thứ hai với ý định hoàn thành bằng Tiến sĩ Luật nhưng ông chỉ lưu lại hơn nửa năm rồi trở về nước.
Trong nước, ông dịch 5 chương đầu cuốn “Khế ước xã hội” của nhằm truyền bá tư tưởng “Người ta sinh ra tự do. Nhà nước là một tổ chức cai trị theo khế ước xã hội. Vì thế nó phải phục tùng ý chí của toàn dân”.
Vào đêm 15 tháng 10 năm 1923, Nguyễn An Ninh lại xuất hiện trên diễn đàn với đề tài “Cao vọng của thanh niên An Nam”. Ông cho rằng “cứ suy tôn Khổng Tử, khó cho ta tiến bước được,… tự do không phải là một vật gì mà ta có thể chuyền tay, có thể cho hay bán. Ai cũng có thể tự do được. Thanh niên ngày nay, không ai cấm chúng ta phác họa ước mơ và cao vọng”.
Và sau đó ông còn đả kích thực dân Pháp “khai thác bóc lột đến tận xương tủy cả Đông Dương”. Thống đốc Cognacq mấy lần gọi ông đến đe dọa và tuyên bố cấm ông diễn thuyết tại các nơi công cộng.
Tuy nhiên, những việc đe dọa của thực dân Pháp không hề làm giảm đi ý chí muốn giải phóng đất nước và dân tộc của Nguyễn An Ninh. Sau khi tổ chức các buổi diễn thuyết, Nguyễn An Ninh đã tổ chức tờ báo “Tiếng chuông rè” để công kích chính sách thực dân Pháp, đề cao các nhà cách mạng, làm cho người đọc tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và truyền bá những tư tưởng tự do.
Số đầu tiên của tờ báo ra ngày 10/12/1923. Không chỉ những ông làm chủ bút, viết bài, xếp chữ, tự tay chăm sóc tờ báo về mọi mặt, Nguyễn An Ninh còn tự tay ôm báo đi rao bán. Để đàn áp tờ báo, chính quyền thực dân đã cấm các nhà in và bưu điện không được in ấn, phát hành hay vận chuyển tờ báo.
Ai dám đi bán báo, đọc báo đều bị theo dõi, thậm chí nếu là công chức sẽ bị sa thải. Do chính sách quá khắc nghiệt của chính quyền thực dân nên tờ “Tiếng chuông rè” chỉ ra được 19 số báo thì bị đình bản vào ngày 14/7/1924.
Vào ngày 10/1/1925, Nguyễn An Ninh sang Pháp lần thứ ba. Trong thời gian ở Pháp, ông đã viết tác phẩm “Nước Pháp ở Đông Dương” để thể hiện tinh thần chống thực dân, yêu cầu các quyền tự do cơ dân chủ cơ bản, sơ đẳng của một con người. Ngoài ra, ông còn diễn thuyết tại Khách sạn Hội Bác học, Paris với nội dung “Tinh thần dân chủ của nước Việt Nam".
Một thời gian sau đó, Nguyễn An Ninh và Phan Chu Trinh cùng về nước. Cuối năm 1925, sau khi tờ “Tiếng chuông rè” được xuất bản lại, Nguyễn Anh Ninh lại tiếp tục viết bài cho tờ báo. Cũng từ thời điểm này, quan điểm chủ nghĩa Max Lenin của “Tiếng chuông rè” cũng rõ nét hơn.
Vào ngày 21/3/1926, Nguyễn An Ninh diễn thuyết trước ba ngàn người nghe, kêu gọi chống chủ nghĩa thực dân. Ba hôm sau, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt kết án 18 tháng tù, nhưng chỉ bị giam 10 tháng thì được “ân xá”.
Sau khi ra tù, ông đã sáng lập ra Thanh niên Cao vọng Đảng, một tổ chức yêu nước hoạt động theo nguyên tắc hội kín ở Nam Kỳ. Ông còn phối hợp với các cán bộ của Hội Việt Nam Cách Mệnh Thanh Niên trong vận động quần chúng và phát triển tổ chức của hội.
Tiếp đó, Nguyễn An Ninh lại qua Pháp. Ở Pháp lần này, Nguyễn An Ninh giao lưu với nhiều nhà yêu nước khác. Ngày 6/1/1928, Nguyễn An Ninh về nước và được đồng bào đón tiếp nồng nhiệt. Ông sáng tác vở tuồng hát Hai Bà Trưng để cổ xúy tinh thần yêu nước.
Vở tuồng được in thành bốn ngàn quyển và chỉ để dành tặng. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là khi vở tuồng chưa kịp diễn thì đã bị cấm. Cuối năm 1928, Nguyễn An Ninh bị bắt lần thứ hai. Lần này, chính quyền thực dân Pháp dựng lên vụ “Hội kín Nguyễn An Ninh” để bắt mấy trăm người ủng hộ ông.
Ông bị kết án và giam giữ 3 năm. Thế nhưng, việc thực dân Pháp cầm tù không thể khiến cho tinh thần yêu nước của Nguyễn An Ninh suy giảm. Nên sau khi ra tù, Nguyễn An Ninh lại tiếp tục viết cho tờ “Trung Lập” và “Tranh Đấu”. Do hoạt động quá tích cực nên đến tháng 4 năm 1936, Nguyễn An Ninh lại bị bắt về tội “phá rối trị an”.
Ông tuyệt thực phản đối và nhờ quần chúng đấu tranh dữ dội đòi thả ông nên Pháp buộc lòng phải trả tự do cho ông vào tháng 11 cùng năm. Song, tiếp đó, đến tháng 7/1937, Pháp lại bắt giam ông và giam cho đến tháng 1 năm 1939.
Ra khỏi tù, Nguyễn An Ninh hoạt động với những người đồng chí trong nhóm Dân Chúng. Ông tổ chức và tham gia nhiều cuộc biểu tình đòi các quyền tự do dân chủ. Sau đó, Nguyễn An Ninh còn ra ứng cử vào Hội đồng Quản hạt.
Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ở Châu Âu. Ở Đông Dương, chính quyền Pháp liền tuyên bố thiết quân luật, ráo riết truy lùng, bắt bớ, sát hại các nhà yêu nước và chiến sĩ cách mạng.
Ngày 5/10/1939, Nguyễn An Ninh lại bị bắt lần thứ năm. Đây cũng là lần cuối cùng Nguyễn An Ninh bị bắt. Bởi sau đó, ông nhận án 5 năm tù lưu đày ở Côn Đảo.



