NGUYỄN BÁ NHẠC
Những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về một thời “hoa lửa” vẫn còn in đậm trong tâm trí của người lính năm xưa – cựu chiến binh Nguyễn Bá Nhạc. Đó là những ngày chiến đấu ác liệt tại chiến trường Quảng Trị năm 1972 – nơi máu, nước mắt và lòng yêu nước hòa quyện thành bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Việt Nam.
Cuối năm 1971 đến đầu năm 1972, quân ta mở màn chiến dịch Quảng Trị. Sau thành công của Hội nghị Paris, khí thế chiến đấu của quân giải phóng càng mạnh mẽ. Quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn buộc phải rút lui về Huế. Trên khắp chiến trường đường 9 – Nam Lào, huyện A Lưới và cứ điểm Khe Sanh, quân ta liên tiếp tiến công và giành thắng lợi.
Từ tháng 3 năm 1972 đến tháng 5 năm 1972, quân giải phóng đã đánh tan tuyến phòng thủ chiến lược của Mỹ - ngụy tại Quảng Trị. Tuy nhiên, trước nguy cơ thất bại nặng nề, từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1972, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở nhiều cuộc phản kích dữ dội nhằm chiếm lại tỉnh Quảng Trị và Thành cổ Quảng Trị với mục tiêu bằng mọi giá phải hạ được lá cờ cách mạng tung bay trên Thành cổ.
Tháng 9 năm 1972, tình hình chiến sự tại khu vực sông Thạch Hãn trở nên vô cùng ác liệt. Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn 308 rút khỏi khu Thạch Hãn Tây và khu giáp sông ở thôn Đệ Ngũ – Trường Bồ Đề, khiến sườn phía Nam thị xã bị hở. Cùng lúc đó, quân lực Việt Nam Cộng hòa tấn công mạnh vào khu La Vang, Tích Tường nhằm ngăn chặn Sư đoàn 308 phản kích từ hướng này.
Trong mưa bom bão đạn, nhiều chiến sĩ Trung đoàn 88 bị thương đã tìm đường về sở chỉ huy Thành cổ. Bộ chỉ huy quyết định tổ chức đưa các chiến sĩ vượt dòng sông lũ để ra hậu phương điều trị. Để giữ vững trận địa, quân ta điều động một bộ phận Tiểu đoàn 7 – Trung đoàn 18 cùng Tiểu đoàn 4 – Trung đoàn 95 ra chiến đấu thay thế Trung đoàn 88, bảo vệ sườn phía Nam thị xã Quảng Trị.
Phía quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động lực lượng vô cùng lớn với 7 sư đoàn gồm: Thủy quân lục chiến, Dù 81, Biệt động quân, pháo binh 105mm, công binh và lực lượng máy bay trực thăng. Ngoài ra còn có pháo hạm của Hạm đội 7 ngoài khơi phối hợp bắn phá dữ dội. Các loại máy bay B57, F105 liên tục ném bom rải thảm xuống tỉnh Quảng Trị với tham vọng chiếm lại vùng đất này.
Thế nhưng, trước tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân ta, mọi âm mưu ấy đều thất bại.
Về phía quân giải phóng, nhiều lực lượng chủ lực đã được huy động tham gia chiến đấu gồm: các Sư đoàn 316, 325, 312, 304, 308; Trung đoàn tăng thiết giáp 703; Lữ đoàn pháo binh 122mm, 130mm và Trung đoàn pháo cao xạ 23 ly.
Suốt 81 ngày đêm chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, quân và dân ta đã kiên cường bám trụ, đập tan cuộc phản kích và tuyến phòng thủ mạnh nhất của quân địch. Chiến thắng ấy không chỉ là biểu tượng của lòng quả cảm mà còn góp phần tạo nên thắng lợi quyết định trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris.
Dù chiến tranh đã đi qua, nhưng những câu chuyện về một thời “hoa lửa” vẫn mãi nhắc nhở thế hệ hôm nay về sự hy sinh to lớn của cha anh để bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc



