Nguyên bản bức thư tiên tri từ Thành cổ Quảng Trị và tình yêu thời hoa lửa của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh
Được viết vào ngày 11/9/1972 ngay tại chảo lửa Quảng Trị, bức thư của sinh viên Đại học Xây dựng Lê Văn Huỳnh gửi lại cho gia đình và người vợ trẻ mới cưới tròn 6 ngày đã trở thành một kỷ vật vô giá về tình yêu và lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam.
Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh quê ở xã Lê Lợi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Năm 1972, khi đang là sinh viên năm thứ 4 khoa Cầu hầm (Đại học Xây dựng), anh gác lại bút nghiên, lên đường nhập ngũ và chiến đấu tại chiến trường khốc liệt nhất: Thành cổ Quảng Trị.
Ngày 11/9/1972, giữa những trận bom cày đạn xới, biết mình khó có thể qua khỏi, anh đã bình tĩnh ngồi viết một bức thư dài 10 trang sổ tay gửi cho gia đình, đặc biệt là cho người vợ trẻ Đoàn Thị Xơ (người mà anh mới chỉ kịp sống cùng 6 ngày sau đám cưới). Anh hy sinh vào ngày 2/1/1973 khi đang làm nhiệm vụ đưa hàng qua sông Thạch Hãn, đúng như những gì anh đã dự cảm.
Dưới đây là trích đoạn nguyên bản bức thư lịch sử đầy bi tráng và xúc động ấy:
"Quảng Trị, ngày 11 tháng 9 năm 1972.
Toàn gia đình kính thương!
Hôm nay con ngồi đây viết vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất” thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
(...) Em thương yêu!
Mọi lá thư đến với em là nguồn động viên em khi xa anh. Song lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất, và có lẽ là nỗi buồn đầu tiên trong cuộc đời của em... Anh bước đi, mong sao cho được thỏa mãn ước vọng. Xưa nay người ta vẫn nói: “Kẻ đi gieo thì không được gặt”.
Em ạ, chúng ta sống với nhau chẳng được là bao, thì nay anh đã ra đi. Chắc em buồn lắm. Song, em hãy dũng cảm lên. Mọi sự bi ai chỉ là vớ vẩn. Em buồn cất tiếng khóc, anh hỡi anh, thế là anh đã vĩnh biệt em!
(...) Thôi nhé em đừng buồn, khi được sống hòa bình hãy nhớ tới công anh. Nếu thương anh thực sự, thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông. Từ thị xã qua cầu ngược trở lại hỏi thăm về “Nhan Biều 1”. Nếu tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Về đấy tìm sẽ thấy tấm bia ghi dòng chữ tên anh đục trên mảnh tôn. Thôi nhé, đó là có điều kiện, còn không thì em cứ làm tốt những điều anh dặn trên là tốt lắm rồi.
(...) Thôi, tất cả những gì đã qua là nhường lại cho người còn sống. Mẹ ơi! Con mẹ đã đi rồi, mẹ đừng buồn. Giải phóng mẹ nhớ mang hài cốt con về.
Chào mẹ, chào các anh, các chị, chào tất cả quê hương. Chào Xơ - người vợ hiện tại và mãi mãi của anh."



