Bài viết

Nguyễn Công Thuận (2)

QUA PHÀ QUÁN HẦU, VƯỢT SÔNG NHẬT LỆ

Gia Lai09/06/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

QUA PHÀ QUÁN HẦU, VƯỢT SÔNG NHẬT LỆ

Tập trung dưới tán rừng cao su, gọi là rừng chứ thực tế là các lô cây cao su do công nhân của nông trường cao su Việt Trung và nông trường Quyết Thắng tỉnh Quảng Bình trồng để khai thác mủ. Các lô, các hàng, các cây được trồng theo quy hoạch vì thế ta đứng trong rừng cao su nhìn hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo đều thẳng tắp, cây cao su tuổi đời cũng đã trồng và khai thác mủ được hàng chục năm rồi. Đoàn quân tập trung thành đội hình hàng dọc thẳng thắp theo tổ chức từng đại đội, đồng chí tiểu đoàn trưởng dõng dạc hô nghiêm mệnh lệnh hành quân, sau đó đồng chí phổ biến nhiệm vụ của cuộc hành quân, hướng hành quân, tốc độ hành quân, cự ly hành quân và mọi kế hoạch đảm bảo an toàn cho chuyến hành quân này. Đêm nay cả tiểu đoàn xuất phát, đoàn xe phải vượt qua sông Nhật Lệ bằng những chuyến phà của bộ đội công binh bến phà Quán Hầu ở địa bàn thuộc làng Văn La, xã Lệ Linh, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đại đội tôi được phân công vượt phà vào đợt thứ hai, đại đội thứ nhất đã vượt sang bờ nam sông Nhật Lệ được hơn 30 xe ô tô, tất cả an toàn, nói an toàn là nói theo bộ mật mã của các đồng chí thông tin, chứ thực tế máy bay Mỹ vẫn bắn pháo sáng thả bom cầm canh khắp các khu vực xung quanh bến phà, có lúc ca nô đẩy phà phải cắt phà trôi tự do, ca nô phải chạy tránh đèn pháo sáng và bom của máy bay Mỹ. Đại đội tôi được lệnh tiếp cận bến phà mỗi chuyến phà chỉ chở hai ô tô (Phà thì có thể chở được 4 ô tô nhưng để tránh thiệt hại khi bị máy bay Mỹ đánh trúng phà nên chỉ chở 2). Trên bến có hai phà thay nhau cập bến, các đồng chí công minh điều khiển và tránh nhau giữa sông Nhật Lệ. Khoảng 2 giờ sáng xe tôi đã tiếp cận bến phà, số xe còn lại chưa đến lượt qua phà thì được giấu ở trong khu rừng cách bến phà hơn 2 km. Lúc này pháo sáng của máy bay Mỹ bắn nhiều hơn ngoài sông Nhật Lệ, ca nô và phà đã được điều khiển chạy đi trú tránh nạn, nhìn sông Nhật Lệ ánh lên sóng nước như kim cương, trên bến ánh sáng chiếu sáng rực có thể nhìn được cả cái kim rơi. Được lệnh quay đầu xe để chạy ra khỏi mục tiêu của bến xe, tôi và ba xe của đồng đội quay đầu nhưng không kịp, rồi chúng tôi chưa kịp quay đầu thì bom đạn của máy bay Mỹ đã thả khắp khu bến phà, chúng cắt toàn bom bi, bom cháy, xe thì xẹp lốp, xe thì vỡ két nước, xe thì thủng hệ thống xăng dầu. Trận đánh thật ác liệt, đồng chí đại đội trưởng Lương Quang Khịch người ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ra lệnh bỏ xe chạy về phía sau tìm hầm trú ẩn, mỗi người chạy một nơi. Nhận được lệnh bỏ xe, tôi xách khẩu AK chạy về phía làng Văn La, vì ngoài bến bom đạn đánh dữ quá nên dân làng Văn La cũng đã thức dậy, thấy có bộ đội chạy vào nhà mình, ông chủ nhà gọi chú bộ đội ơi hầm ở đây, tôi chạy vào thấy gia đình ông chủ có hai vợ chồng và bốn người con người con gái lớn khoảng 13, 14 tuổi, còn ba em còn nhỏ trong khu vườn. Nhà ông chủ có một cái hầm đào sâu dưới lòng đất kiểu hầm chữ L có cửa vào và cửa thoát hiểm, trên nóc hầm gác gỗ rồi đổ cát dày khoảng 1 m. Lúc này tiếng máy bay gầm rú nhiều hơn, tiếng bom đạn cũng chát chúa và dày đặc hơn, pháo sáng của Mỹ vẫn bắn liên hồi, xóm Văn La trở thành trận địa là mục tiêu chính của đêm nay vì máy bay Mỹ đã phát hiện được bốn xe ô tô đỗ ở bến xuống phà. Lúc này có 6 người trong gia đình ông chủ và tôi đã xuống hầm, bỗng ông chủ bảo tôi "Chú bộ đội ngồi ngoài, chạy lên vào nhà xách cái đầu máy khâu xuống giúp tôi nghe" (Từ nghe tiếng Quảng Bình tức là nhé), chui ra khỏi hầm tôi chạy vào gian nhà xép để máy khâu nhanh chóng xách cái đầu máy khâu rồi trở lại hầm, bên ngoài bom đạn ngày càng dữ dội hơn, xóm Văn La đã có nhà cháy, tiếng nổ của bom đạn lẫn tiếng nổ của vật dụng tre nứa, chum vại và tiếng kêu của trâu bò, gà vịt, ngan ngỗng đã làm nên một âm thanh hỗn loạn. Khoảng gần 1 giờ đồng hồ đánh phá, máy bay Mỹ đã bỏ đi, bầu trời không còn pháo sáng của máy bay Mỹ chỉ còn lại các đốm lửa cháy nhà cửa bếp núc, các đống rơm, đống rạ, chuồng trâu, chuồng bò của làng Văn La cùng với đống lửa cháy rực ở bến phà của bốn xe ô tô của đơn vị không kịp thoát nạn, trong đó có xe của tôi. Tất cả mọi người sau khi thấy tiếng súng đạn đã im lặng đều lên khỏi hầm, rất may mắn là cả gia đình ông chủ nhà và tôi đều an toàn, tài sản nhà ông chủ đã cháy rụi, một con bò và toàn bộ lợn, gà, ngan, vịt đều bị trúng bom chết hết, trong đêm tối lửa củi cháy ngổn ngang không còn gì, tài sản duy nhất của gia đình ông chủ còn lại một cái đầu máy khâu, tôi thì còn lại khẩu súng AK. Ông chủ bảo với vợ con là tài sản không còn gì cả nhà đi vào xóm mới trong đó có người bà con để tá túc qua đêm, xóm mới mà ông chủ nói đến là xóm mà bà con xóm đầu bến phà vào sơ tán chiến tranh, xóm cách bến phà khoảng 3 km, vì trong đêm tối chưa liên lạc được với đơn vị nên tôi cũng đi cùng gia đình ông chủ vào xóm mới. Trên quãng đường vào xóm mới, tôi tìm hiểu ông chủ tên là Ngô, là thợ may quần áo, ông khoảng 40 tuổi, bị khuyết tật teo chân trái đi lại rất khó khăn, ông làm nghề may vá phụ giúp kinh tế gia đình, vợ ông chủ làm ruộng làm nông, các con của ông bà đều còn đi học, Đoạn đường đi vào xóm mới tôi là người giúp vợ chồng bác Ngô vác cái đầu máy khâu, còn bác gái dìu bác trai, cô con gái lớn 13 tuổi dắt ba em nhỏ. Sáng hôm sau tôi liên lạc được với đơn vị, theo thông tin của đồng chí đại đội trưởng cho biết đại đội cháy bốn xe ô tô tại bến phà, còn lại an toàn, anh em chiến sĩ không ai việc gì. Toàn đơn vị về vị trí tập kết ở khu rừng cách bến 2 km chờ cho bộ đội công binh tu sửa, khắc phục bến phà xong đơn vị sẽ tiếp tục vượt sông Nhật Lệ vào Trường Sơn. Vào đêm tiếp theo chia tay gia đình bác Ngô. Trong một đêm bom đạn tôi tiếp tục vào Trường Sơn cùng đoàn quân đi giải phóng miền Nam. Đến năm 1976 đơn vị tôi đi công tác qua đất Quảng Bình, qua phà Quán Hầu vẫn chưa bắc được cầu. Từ trong Nam ra, xe qua phà trở lại xóm Văn La tôi dừng xe ngoài quốc lộ 1, tìm vào thăm lại gia đình bác Ngô, lúc đầu bác Ngô không nhận ra tôi, sau khi giới thiệu và kể lại trận đánh bác Ngô đã nhận ra tôi, ông rất vui gọi vợ, mự ơi chú bộ đội năm nọ trú hầm với gia đình mình vẫn còn sống, nay đã trở về nè, trời ơi thật hạnh phúc. Vui quá vợ bác Ngô từ bếp chạy lên vui mừng, tôi cảm thấy hai bác đều vô cùng phấn khởi, thân mật, thật thà, tôi hỏi thăm sức khỏe gia đình và biếu quà hai bác, cho quà các em rồi xin phép tạm biệt, bác trai bác gái đều mong muốn giữ lại ăn một bữa cơm thân mật rồi mới cho đi, tôi hẹn khi nào có dịp tôi lại vô thăm, còn ba người con của bác Ngô tôi không gặp được vì các em còn đi học, chào hai bác tôi ra xe cùng đơn vị tiếp tục hành quân. Bản chất tốt đẹp của anh bộ đội cụ Hồ là đi dân nhớ ở dân thương, tình cảm quân dân như cá với nước là như thế đấy, nghĩa tình của người dân Quảng Bình yêu thương quý mến bộ đội như người thân trong gia đình.Bên dòng sông Nhật Lệ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn