Nguyễn Công Thuận (4)
LẦN ĐẦU TIÊN VƯỢT PHÀ LONG ĐẠI, VƯỢT CỬA KHẨU ĐƯỜNG 10, HÒA NHẬP VÀO ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN.
. Năm 1970 giặc Mỹ cho máy bay bắn phá vô cùng ác liệt miền Bắc Việt Nam, đoàn xe quân sự của chúng tôi hơn 100 xe ô tô còn thơm thơm mùi sơn mới, một xe chở 5 tấn đạn dược, bịt bạt kín ngụy trang bằng cây xanh của rừng Yên Thế tỉnh Bắc Ninh. Đoàn xe vượt qua cầu Long Biên tiến vào trung tâm thành phố Hà Nội, rồi tạm biệt chia tay thủ đô yêu quý, trái tim của tổ quốc, chúng tôi hướng về phương Nam, đi qua đất Phủ Lý, Ninh Bình vào Thanh Hóa phải đi qua phà ghép, gọi là phà nhưng thực ra là những bó cây vầu, cây nứa ghép lại với nhau làm phà của bộ đội công binh và công nhân giao thông tỉnh Thanh Hóa để chở chúng tôi qua sông, tạm biệt cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã tỉnh Thanh Hóa, vào thành phố Vinh tỉnh Nghệ An phải qua cầu phao Bến Thủy sông Nam vào Hà Tĩnh đi theo chân núi Hồng Lĩnh đến Kỳ Anh, địa danh này máy bay Mỹ thường xuyên đánh phá rất ác liệt vì Hà Tĩnh có ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm vận chuyển hàng quân sự tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Vượt qua đèo Ngang vào tỉnh Quảng Bình. Vào lúc bình minh đang lên, lần đầu tiên được nhìn ngắm biển khơi từ trên đỉnh núi cao, tôi và các anh em trong đoàn đã cho xe dừng lại rồi rời buồng lái xuống đường đứng ngắm nhìn biển cả mênh mông non xanh núi biếc như tranh họa đồ thật tuyệt vời một hồi lâu để cảm nhận cảnh đẹp của đất nước quê hương trước khi bước vào núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Vượt qua phà Ròn, xe leo lên đèo Lý Hòa, đường đèo cao, vực sâu, một bên là núi đá, một bên là biển cả xe đi trên đèo cao phóng tầm mắt nhìn ra vũng chùa đảo yến, trong lòng cảm nhận một vùng đất trời tươi đẹp và thiêng liêng của tổ quốc, có phải chăng từ cảm hứng đất trời tươi đẹp bao la, thiêng liêng đó mà nhạc sĩ Hoàng Vân đã sáng tác bài hát "Quảng Bình quê ta ơi!" Để bài hát ấy đã mãi mãi đi cùng năm tháng. Đoàn xe hành quân vào đến ngã ba Thụ Lộc, lúc này là cuối tháng 6 năm 1971, đơn vị tạm đóng quân ở trong một cánh rừng cao su. Chúng tôi là lính lái xe tân binh, được bàn giao cho một tiểu đoàn khung của bộ đội vận tải ô tô Trường Sơn vì mùa khô năm 1970 các anh đã phục vụ chiến đấu ở Tây Trường Sơn, hôm nay tiếp nhận chiến sĩ mới chúng tôi để chuẩn bị cho mùa vận chuyển năm 1971 và 1972. Cùng bổ sung vào đơn vị với chúng tôi đợt này còn có gần 100 chiến sĩ mới lái xe, các bạn ấy được học lái xe ở trường lái xe quân khu bốn, những chiến sĩ này quê hương ở tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình và Nam Định. Chúng tôi được biên chế vào tiểu đoàn 66, gồm có 4 đại đội là: Đại đội 5, đại đội 30, đại đội 51 và đại đội 170. Tôi được biên chế về đại đội 5 do anh Đào Duy Hiền làm đại đội trưởng, anh Văn đại đội phó, còn anh Tùy là đồng hương về đại đội 30, anh Kính làm đại đội trưởng. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 66 là anh Trịnh Thanh quê Thanh Hóa, chính trị viên tiểu đoàn là anh Thập quê tỉnh Thái Bình. Tiểu đoàn bộ và 4 đại đội đóng quân trong một khu rừng già, rậm rạp thuộc xã Cự Nẫm huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.Ở cách xa khoảng 700m có khu trường 2 giỏi của tỉnh Quảng Bình mới sơ tán về đây. Xã Cự Nẫm là trạm giao liên đầu tiên đón các đoàn, các binh chủng hành quân vào đường Trường Sơn ra chiến trường. Tiểu đoàn 66 ô tô vận tải Quân sự thuộc trung đoàn 11 vận tải cơ động của đoàn 559 Trường Sơn địa bàn hoạt động chủ yếu trên đường Trường Sơn Tây, dọc theo con đường số 24 kéo dài từ tỉnh Quảng Bình vào đến Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước. Tuyến đường này nằm toàn bộ trên đất bạn là hai nước Lào và Campuchia. Bây giờ là cuối tháng 6 năm 1971 mùa khô ở Trường Sơn bắt đầu từ tháng 10 cho đến tháng 4 năm sau, như vậy còn 3 tháng nữa đoàn xe của chúng tôi sẽ bon bon trên đường Trường Sơn. Ba tháng đóng quân tại xã Cự Nẫm huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, đơn vị tập trung học tập chính trị, học tập các quy định, quy ước của chiến trường, đặc biệt là quy ước của cung đường trường Sơn về các phong tục tập quán của 2 nước bạn Lào và Campuchia. Ngoài ra còn lên rừng chặt tre gỗ cắt tranh về làm doanh trại, củng cố kỹ thuật xe, đặc biệt là làm gia cố cho xe như làm giàn mướp che nóc ca bin, buồng lái, ca bô xe, cánh cửa xe để tránh bom bi và mảnh bom đạn khi xe hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn.Xã Cự Nẫm là trạm giao liên đầu tiên ví như cánh cửa được mở ra cho đoàn quân bước vào Đường Trường Sơn, quân ta từ miền Bắc hành quân vào miền Nam như dòng thác chảy, đông vui nhộn nhịp.Tôi đã gặp được anh Nguyễn Đắc Lơi, anh Nguyễn Đức Điềm cùng xã Phượng Hoàng, hai anh ở đơn vị pháo phòng không và gặp anh Nguyễn Danh Nâu ở xóm 11 đơn vị bộ binh. Ba tháng công tác học tập ở đất lửa Quảng Bình, tuy là chiến sĩ mới tuổi đời 19, 20 nhưng chúng tôi cũng đã làm quen được với núi rừng, sông, suối với bom đạn ác liệt vì Quảng Bình là cửa khẩu của Trường Sơn. Đến tháng 10 năm 1971 sau khi chuẩn bị đầy đủ các điều kiện. Tiểu đoàn 66 cùng với các đơn vị khác của trung đoàn 11 nhận được lệnh nhập tuyến lên đường Trường Sơn để làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vũ khí, súng, đạn, lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng, quân y và các nhu yếu phẩm khác để phục vụ cho các chiến trường B.C.K (đó là chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia). Chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh nhập tuyến của đồng chí Đại tá Đồng Sĩ Nguyên tổng tư lệnh bộ đội Trường Sơn đoàn 559, đồng chí Đặng Tĩnh là chính ủy bộ tư Lệnh đoàn 559. Lần đầu tiên được đến rừng Trường Sơn. Những anh lính trẻ chúng tôi vừa mừng lại vừa lo, mừng vì từ lúc còn bé đến bây giờ chưa được đi xa, luôn luôn trong vòng tay nâng đỡ của mẹ hiền và anh em trong gia đình nay được lái một chiếc xe ô tô chở năm tấn hàng lại được leo lên đỉnh núi Trường Sơn hùng vĩ ngắm cảnh đẹp non xanh núi biếc như tranh họa đồ đẹp tuyệt vời và cứ thế theo đường Trường Sơn vào đến tận miền Nam yêu quý, đi qua đất nước bạn Lào và Campuchia còn lo ngại vì đường Trường Sơn thì đèo cao, vực sâu, đường quanh co gấp khúc, gọi là đường nhưng thực ra bộ đội công binh chặt cây kè đá tạo thành mặt bằng cho xe vượt qua là được. Xe đi trên đường rừng, đi dưới khe suối cạn, vượt qua ngầm nước sâu có rất nhiều đá hộc rất nguy hiểm, nhưng khó khăn nhất vẫn là bom đạn của giặc Mỹ rải khắp nơi trên đường Trường Sơn như: bom B52, bom cháy, bom khoan, bom bi, bom phát quang, mìn vướng nổ ... Với bao nhiêu nguy hiểm khó khăn như thế mà xe chỉ được chạy ban đêm bằng đèn gầm, không biết mình có vượt qua được hay không. Cửa khẩu lần đầu tiên vào đường Trường Sơn đơn vị chúng tôi vượt qua là cửa khẩu đường số 10 từ huyện Bố Trạch, đoàn xe hành quân đêm vượt qua phà long Đại. Đêm nay tất cả các xe phải giấu trong khu rừng cách bến phà khoảng 2km, đề phòng giặc Mỹ bắn pháo sáng tìm kiếm xe của quân ta, mỗi chuyến phà sang sông theo quy định chỉ chở hai xe ô tô, nếu bị máy bay Mỹ phát hiện, chúng bắn phá ta sẽ giảm thiệt hại. Khi cho xe xuống phà xong, lái xe phải chuyển sang ca nô lai dắt đẩy phà của công binh để đề phòng máy bay Mỹ đánh phá thì công binh cắt phà cho trôi tự do còn ca nô thì nhanh chóng chạy vào vách núi đá ven sông để tránh bom đạn của Mỹ bảo toàn tính mạng cho lái xe. Rất may mắn đa số chúng tôi đã qua phà an toàn sang bờ Nam phà Long Đại. Chúng tôi cho xe chạy thẳng về khu rừng gần hồ Cẩm Ly để tránh máy bay và chờ đoàn. Lần vượt phà này đơn vị đã hy sinh một đồng chí, sự việc xảy ra là xe xuống phà xong, đồng chí Lầu là lái xe người dân tộc quê Lạng Sơn.Nói thật mất lòng, Đồng chí Lầu hi sinh nguyên nhân là không chấp hành nghiêm chỉnh nội quy qua phà không di chuyển sang ca nô của công binh, khi máy bay Mỹ đến bắn pháo sáng, phát hiện mục tiêu, nó liền cắt bom bắn dốc kép vào phà, công binh đã cắt phà ra khỏi ca nô thế là phà trôi tự do, máy bay Mỹ liên tục trút bom đạn làm tan nát cả dòng sông, khi phà trôi dạt vào vách núi đá bị mắc kẹt lại thấy mất mục tiêu Máy bay Mỹ bỏ đi, ca nô công binh đi tìm thấy phà rồi lai dắt về nơi cất giấu phà thì thấy đồng chí Lầu đã hi sinh lúc 3 giờ vì bị mảnh bom cắt vào người ra quá nhiều máu. Kết quả vượt phà Long Đại hi sinh một người là đồng chí Lầu , đây cũng là một bài học quý và bị cháy hai xe ô tô.Sáng hôm sau vượt qua cửa khẩu đường số 10, phải vượt qua dốc khỉ đèo ho, rồi vượt qua đường số 9 rồi đi sang địa phận nước bạn Lào. Sáng hôm nay sương mù bao phủ mênh mông, lợi dụng thời tiết xấu, chỉ huy đoàn quyết định vượt cửa khẩu đường số 10. Giữa ban ngày mọi công việc đang suôn sẻ, cả đoàn xe hàng trăm chiếc đang cần mẫn như con trăn khổng lồ vượt đèo cao qua cửa khẩu, bỗng có một chiếc máy bay OV 10 trinh sát của Mỹ, nó phát hiện thấy mục tiêu nghi ngờ nó bắn một quả pháo hiệu vu vơ, thế là máy bay F4 của Mỹ từ sân bay Thái Lan và ở hạm đội bảy ở ngoài Biển Đông bay đến bổ nhào, phóng rốc két cắt bom, chỉ huy đoàn ra lệnh xe nào đang vượt đèo thì nhanh chóng thoát ra khỏi trọng điểm còn xe nào ở chân đèo chưa vượt thì quay đầu lại chạy vào rừng rậm tìm nơi trú ẩn an toàn. Máy bay Mỹ bắn phá khoảng 1h (một giờ). Vì quân ta không có pháo phòng không yểm trợ, máy bay Mỹ làm chủ bầu trời 100% vì thế nó bay rất thấp.Tưởng là súng AK cũng bắn được, đồng chí Bùi Trọng Phô, quê ở Ninh Giang Hải Dương cũng là lính mới như chúng tôi dùng súng AK bắn máy bay, tên phi công Mỹ rất thông minh thấy có tiếng súng ở mặt đất chống cự bọn F4 càng điên cuồng bắn phá ác liệt hơn nữa. Lần đầu tiên vượt cửa khẩu vào Trường Sơn cũng là lần thử lửa đầu tiên với quân Mỹ, chúng tôi tự thấy mình đã vững vàng và trưởng thành hơn trong trận chiến đấu này. Kết quả đơn vị bị cháy 3 xe ô tô, một số xe khác bị thủng xăm, vỡ két nước và bị hư hỏng một số chi tiết máy móc khác. Bị thương hai đồng chí là: Đồng chí Phô chiến sĩ mới và anh Kính đại đội trưởng đại đội 30.Trên đỉnh đường Trường Sơn 1972.



