Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng của văn học yêu nước Việt Nam (1)
Nguyễn Gia Thiều (1741-1798), danh sĩ thời Lê – Trịnh, người làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, Bắc Ninh, sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc lâu đời. Thân phụ là Nguyễn Gia Ngô, một võ quan cao cấp tước Đạt vũ hầu, thân mẫu là Quận chúa Quỳnh Liêm Trịnh Thị Ngọc Tuân, con gái của An đô vương Trịnh Cương. Từ bé, Nguyễn Gia Thiều được vào Phủ Chúa học cả văn lẫn võ, khi trưởng thành rất được chúa Trịnh tin dùng, mới 18 tuổi đã giữ chức Hiệu úy quản thị vệ trung mã tả đội, sau đó thăng chỉ huy Thiêm sự. Năm 1782 nhờ lập chiến công được phong chức Tổng binh Hưng Hóa, tước Ôn Như Hầu. Trong thời gian làm quan, Nguyễn Gia Thiều vì chán ngán cảnh xã hội điêu tàn nên thường bỏ việc, không màng đến quyền cao chức trọng, giao du với các triết gia, thi sĩ, lấy cầm kỳ thi tửu làm vui tại nhà riêng gần Hồ Tây, say mê nghiên cứu Phật giáo và Lão giáo nên lấy hiệu là Hy Tôn Tử và Như Ý Thiền, biệt hiệu là Tân Thi Viện Tử và Sơn Nhân, văn thơ của ông vì thế chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Phật và Lão giáo. Ngoài tài văn thơ, Nguyễn Gia Thiều còn có tài về nhạc, họa, kiến trúc. Ông là tác giả của các bài ca, bài tán Sơn trung âm, Sở từ diệu, tác giả của bức tranh nổi tiếng Trống sơn đồ. Nguyễn Gia Thiều cũng là người được chúa Trịnh giao việc trang hoàng phủ chúa và điều khiển xây tháp Thiên Tích ở Bắc Ninh. Năm 1786, khi quân Tây Sơn kéo ra Bắc diệt Trịnh, Nguyễn Gia Thiều trốn lên miền núi Hưng Hóa, đến năm 1789, Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh, mời Nguyễn Gia Thiều ra cộng tác nhưng ông khước từ, trở về quê cũ, ngày ngày uống rượu tiêu sầu giả ngây giả dại cho đến khi mất. Tác phẩm văn học của Nguyễn Gia Thiều về Hán văn có Tiền Hậu thi tập (tức Ôn Như thi tập), tương truyền có đến hàng nghìn bài, về văn Nôm cóTây Hồ thi tập, Tứ Trai thi tập, và nổi tiếng nhất là tác phẩm Cung oán ngâm khúc,trong đó Nguyễn Gia Thiều mượn lời người cung nữ để tâm sự cảnh ngộ bị bỏ rơi của mình nhằm ngụ ý bộc bạch nỗi chán chường, mệt mỏi, bế tắc của tầng lớp nhà nho đương thời-trong đó có tác giả-trong một xã hội biến động, loạn lạc, điêu linh của thời Lê mạt.


