Nguyễn Hữu An – Vị tướng gắn với những chiến trường lớn
Thượng tướng Nguyễn Hữu An (1926–1995) sinh tại Trường Yên, Ninh Bình. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945 và trưởng thành qua nhiều cương vị chỉ huy trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Gần nửa thế kỷ trong quân ngũ, ông có mặt tại nhiều chiến trường quan trọng của hai cuộc kháng chiến, từ Điện Biên Phủ đến Tây Nguyên, Quảng Trị và Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Từ người chiến sĩ đến Trung đoàn trưởng ở Điện Biên Phủ
Tháng 8/1945, Nguyễn Hữu An tình nguyện gia nhập Giải phóng quân tại Yên Bái và được giao làm Tiểu đội trưởng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông từng tham gia và chỉ huy nhiều trận đánh, chiến dịch trên các chiến trường như Bông Lau - Lũng Phầy, Đông Khê, Thất Khê, Mộc Châu, Bình Liêu. Qua thực tiễn chiến đấu, ông từng bước đảm nhiệm những vị trí chỉ huy cao hơn.
Năm 1954, khi mới 28 tuổi, Nguyễn Hữu An là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, đơn vị được giao nhiệm vụ tiến công cứ điểm Đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là một trong những vị trí phòng thủ quan trọng của tập đoàn cứ điểm. Sau nhiều ngày chiến đấu, Trung đoàn 174 chiếm được A1, góp phần tạo điều kiện để quân ta tiếp tục phát triển tiến công vào khu trung tâm Mường Thanh.
Từ Tây Nguyên đến trận Ia Đrăng
Sau năm 1954, Nguyễn Hữu An tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí trong quân đội. Năm 1955, ông làm Tham mưu phó Sư đoàn 316; năm 1957 làm Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc.
Tháng 9/1964, ông được giao làm Tư lệnh Sư đoàn 325 và sau đó được điều vào chiến trường miền Nam. Khi lực lượng sư đoàn được phân tán tại Tây Nguyên, Nguyễn Hữu An được bổ sung vào Đảng ủy Mặt trận B3 và giữ chức Phó Tư lệnh Mặt trận.
Tại đây, ông cùng Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 tham gia chỉ huy Chiến dịch Plei Me năm 1965. Sau khi quân Mỹ đưa lực lượng lớn lên Tây Nguyên, chiến trường chuyển sang giai đoạn mới với sự tham gia trực tiếp của các đơn vị chiến đấu Mỹ.
Trong trận Ia Đrăng tháng 11/1965, Nguyễn Hữu An được giao trực tiếp chỉ huy các đơn vị chủ lực tham gia chiến đấu. Trước ưu thế về hỏa lực và cơ động của quân Mỹ, ông cùng Bộ Tư lệnh Mặt trận chủ trương liên tục điều chỉnh cách đánh theo tình hình thực tế.
Ngày 14/11/1965, ông lập sở chỉ huy tại khu vực gần núi Chư Pông để trực tiếp theo dõi và chỉ đạo trận đánh. Các đơn vị quân giải phóng tổ chức thế trận áp sát, chia cắt và bao vây, từng bước hạn chế ưu thế về hỏa lực và không quân của đối phương.
Kết quả, một tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt hoàn toàn và một tiểu đoàn khác bị thiệt hại nặng. Ia Đrăng trở thành một trận đánh được nhắc đến nhiều trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đồng thời là một dấu mốc gắn liền với tên tuổi Nguyễn Hữu An.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này gọi ông là “Vị tướng của trận mạc”, ghi nhận một đặc điểm nổi bật trong quá trình chỉ huy của ông: thường được giao những nhiệm vụ khó khăn và phải đưa ra quyết định trong những tình huống phức tạp.
Những quyết định ở chiến trường Quảng Trị
Trong những năm 1969–1972, Nguyễn Hữu An tiếp tục được điều động đến nhiều chiến trường. Đầu năm 1971, ông chỉ huy Sư đoàn 308 tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Cuối năm 1971 và đầu năm 1972, ông tiếp tục tham gia Chiến dịch Cánh đồng Chum.
Giữa năm 1972, khi chiến trường Quảng Trị diễn ra quyết liệt, ông được giao làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Trị - Thiên. Từ thực tế chiến trường, Nguyễn Hữu An nhận thấy lực lượng ta gặp khó khăn khi phải tiến công trong thời gian dài, trong khi đối phương có điều kiện cơ động và tổ chức phản công.
Từ đó, ông đề nghị chuyển từ phương án phản công sang phòng ngự nhằm giữ những khu vực đã chiếm được và hạn chế tổn thất. Khi được hỏi về khả năng giữ trận địa, ông không đưa ra lời bảo đảm tuyệt đối mà đánh giá rằng có thể giữ được phần lớn trận địa.
Cách đánh giá dựa trên thực tế này cho thấy phong cách chỉ huy của Nguyễn Hữu An: quyết đoán nhưng luôn cân nhắc tình hình cụ thể trước khi lựa chọn phương án.
Tư lệnh Quân đoàn 2 trong mùa Xuân 1975
Đầu năm 1975, sau thời gian học tập tại Liên Xô, Nguyễn Hữu An trở về nước và được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 2.
Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Quân đoàn 2 tham gia các chiến dịch trên hướng Trị - Thiên, Huế và Đà Nẵng. Từ tháng 3/1975, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hữu An, Quân đoàn phối hợp với các lực lượng tiến công, góp phần làm tan rã hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn tại miền Trung.
Đầu tháng 4/1975, Quân đoàn 2 được giao tiến về phía Nam theo hướng ven biển để tham gia lực lượng tiến công Sài Gòn. Bộ Tư lệnh Quân đoàn đề ra phương châm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, tổ chức lực lượng vừa hành quân vừa xử trí các tình huống trên đường tiến quân.
Cuộc hành quân kéo dài gần 1.000km và diễn ra trong điều kiện chiến trường thay đổi nhanh chóng. Quân đoàn 2 sau đó trở thành một trong những lực lượng thọc sâu vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày 30/4/1975, lực lượng của Quân đoàn 2 tiến vào Dinh Độc Lập, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh và sự kiện kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước.
Từ vị tướng chiến trường đến công tác đào tạo cán bộ
Sau năm 1975, Nguyễn Hữu An tiếp tục chỉ huy Quân đoàn 2 tham gia nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam trong giai đoạn 1977–1981.
Từ năm 1984 đến 1987, ông giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, quyền Tư lệnh Quân khu 2. Năm 1988, ông được giao làm Giám đốc Học viện Lục quân và giữ cương vị này đến năm 1991. Sau đó, ông tiếp tục làm Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao, tiền thân của Học viện Quốc phòng, đến năm 1995.
Đây là giai đoạn Nguyễn Hữu An chuyển trọng tâm từ trực tiếp chỉ huy chiến trường sang xây dựng quân đội, đào tạo cán bộ và nghiên cứu, hoạch định quân sự. Những kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều chiến dịch trở thành một phần trong công tác giáo dục, huấn luyện các thế hệ cán bộ quân đội.
Trong cuộc đời quân ngũ, Nguyễn Hữu An được trao nhiều phần thưởng như Huân chương Độc lập hạng Nhất, ba Huân chương Quân công, ba Huân chương Chiến công, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Ông qua đời ngày 3/3/1995. Hơn 30 năm trực tiếp chiến đấu và chỉ huy, Nguyễn Hữu An để lại dấu ấn qua nhiều chiến trường và những quyết định quan trọng, từ Điện Biên Phủ, Tây Nguyên, Quảng Trị đến Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau chiến tranh, ông tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng quân đội, đặc biệt trong công tác đào tạo cán bộ.


