Nguyễn Mạnh Thắng tấm gương cho các cháu thanh, thiếu niên học tập
Ông sinh ngày 4/5/1950, trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn, Nghệ An, lớn lên trong hoàn cảnh bố mẹ đau yếu, kinh tế thiếu thốn, khó khăn. Ông đã sớm có ý thức tự lập, tự giác vươn lên trong gian khó hết lòng giúp đỡ bố mẹ. Là một học sinh giỏi, nhưng ông không được học hành như các bạn cùng trang lứa. 15 tuổi, ông đã phải nghỉ học và trở thành lao động chính trong gia đình.

Là một học sinh giỏi, nhưng ông không được học hành như các bạn cùng trang lứa. 15 tuổi, ông đã phải nghỉ học và trở thành lao động chính trong gia đình. Năm 1968, tròn 18 tuổi, ông đã làm đơn tình nguyện nhập ngũ, nhưng đến tháng 3/1969, ông mới được gọi nhập ngũ vào lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Sau 3 tháng huấn luyện, ông được điều về C4, Đại đội Cơ động thuộc Tiểu khu 78 Công an nhân dân vũ trang Nghệ An, hoạt động trên địa bàn huyện Kỳ Sơn.
Địa bàn phía Tây Nghệ An bao gồm 2 huyện Tương Dương và Kỳ Sơn, là địa bàn phức tạp về an ninh chính trị và là trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ nhằm cắt đứt sự chi viện, tiếp tế của Việt Nam cho bạn Lào qua Quốc lộ số 7 sang tỉnh Xiêng-khoảng (Lào). Trên biên giới luôn có sự hoạt động xâm nhập của bọn phỉ, bọn phản động, gián điệp, biệt kích từ Lào về tập trung vào các địa bàn người Mông sinh sống để móc nối cơ sở, thực hiện chỉ điểm và phá hoại các mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế quan trọng của ta. Phía ngoại biên, tiếp giáp là hai huyện Mường Mộc, tỉnh Xiêng Khoảng và Viêng Thoong, tỉnh Bô Ly Khăm Xay. Đây là địa bàn nước Bạn gặp rất nhiều khó khăn, bọn phỉ chiếm đóng, khống chế người dân, ám sát cán bộ, phá hoại các công trình quốc phòng, dân sinh, cầu cống... Vì vậy, Bạn đề nghị ta chi viện giúp Bạn giải phóng hai địa bàn này.
Thực hiện chủ trương của Trung ương và Bộ Công an, Bộ Tư lệnh Công an vũ trang trực tiếp phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An chỉ đạo lực lượng Công an nhân dân vũ trang Nghệ An mở mặt trận K5 để đưa lực lượng sang giúp Bạn. Ngày 2/12/1968, mặt trận K5 chính thức được phê duyệt và triển khai. Bộ Tư lệnh điều cho Công an vũ trang Nghệ An 1 Tiểu đoàn cơ động (D12) tăng cường lực lượng cho các đồn, trạm trọng điểm và mặt trận K5.
Tháng 9/1969, Nguyễn Mạnh Thắng được điều về C4. Tháng 11/1970, ông được điều về đơn vị C5 và sau đó sáp nhập với C6 tăng cường cho mặt trận K5, lấy phiên hiệu là C56. Ông kể cho tôi nghe trận chiến đấu đầu tiên là "trận phục kích táo bạo" đánh toán gián điệp biệt kích xâm nhập vào Kỳ Sơn ngày 23/5/1970: Khoảng 14 giờ, ngày 23/5/1970, trong lúc toán gián điệp biệt kích đang chuẩn bị pháo kích bằng cối 60 ly vào trụ sở cơ quan huyện Kỳ Sơn thì bị lực lượng truy lùng của ta ập tới nổ súng tấn công. Toán gián điệp biệt kích hoảng loạn bỏ chạy để lại súng cối, đạn và trang bị cá nhân, tìm đường rút quân qua biên giới về căn cứ ở Lào. 19 giờ, ngày 23/5/1970, Tiểu đội 2, C4 chúng tôi được lệnh hành quân lên địa bàn cửa khẩu Nậm Cắn để phục kích đón lõng toán gián điệp biệt kích trên biên giới. 0 giờ 10 phút ngày 24/5, chúng tôi đến Đồn Nậm Cắn, được đồng chí Trưởng đồn thông báo tình hình và bố trí Tiểu đội 2 phối hợp với đội công tác địa bàn của đồn có nhiệm vụ tổ chức mật phục tại suối Huồi Cáng. Đây là hướng mà theo nhận định của trên, toán gián điệp biệt kích sẽ rút theo suối Huồi Cáng để vượt biên sang Lào, vì đây là đường dễ đi và ngắn nhất.
5 giờ sáng ngày 24/5, lực lượng mật phục tới vị trí phục kích theo chỉ định của Chỉ huy Đồn Nậm Cắn, chúng tôi được phát khẩu phần ăn 3 ngày gồm cơm nắm và lương khô. 13 giờ ngày 27/5, địch vẫn chưa xuất hiện, lực lượng phục kích được lệnh chuyển vị trí mới, chỉ để lại 3 đồng chí: Tuy, Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng thuộc Đồn Nậm Cắn; Việt, Trung sĩ, Tiểu đội trưởng và Binh nhất Thắng thuộc C4. Ba anh em chúng tôi buộc phải tính toán lại vị trí mật phục và bố trí đội hình tiếp tục làm nhiệm vụ. Sau khi khảo sát lại địa hình, căn cứ vào lực lượng và hỏa lực chúng tôi quyết định dời vị trí sâu vào hướng nội địa khoảng 100m. Điểm mật phục là sau tảng đá lớn khoảng 5m3, rộng 4m, cao 1m so với lòng suối. Đây là điểm mật phục bất lợi về địa hình (vì ở giữa lòng suối), song thuận lợi cho việc quan sát và tầm nhìn xa khoảng 100m, sẽ chủ động phát hiện địch sớm. Ba chúng tôi thay nhau canh gác 24/24 giờ và phải ngụy trang bằng vật liệu khô cho phù hợp để tránh sự nghi ngờ, phát hiện của địch. Phương án được vạch ra là: Khi phát hiện địch ở lòng suối cạn, phải chờ chúng vào sát vị trí mật phục khoảng 3m mới đồng loạt nổ súng.
Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 28/5/1970, cách vị trí mật phục khoảng 70m, chúng tôi phát hiện tên địch đầu tiên xuất hiện ở lòng suối cạn. Khi tên mang điện đài và toàn bộ đội hình 13 tên gián điệp biệt kích đã vào tầm ngắm tốt. Thấy đây là thời điểm thích hợp nhất để tấn công địch, chúng tôi đồng loạt nổ súng. Mỗi người chỉ mới bắn hết 1 băng đạn AK thì bọn đi sau đã rút chạy. Đồng chí Tuy ở lại khống chế 2 tên còn sống, tôi và đồng chí Việt tiếp tục truy đuổi địch. Được khoảng 200m thì chúng tôi phải quay lại trận địa, vì trời tối và bọn thoát chết đã đi xa. Kết quả trận đánh, địch bị ta tiêu diệt 2 tên, bắn bị thương 2 tên. Tên mang điện đài thoát chết vì khi phát hiện ra chúng tôi, nó lăn đùng ra suối giả chết. Nghe tiếng súng báo hiệu chi viện, dân quân bản Huồi Cáng đã kịp thời tăng cường giúp chúng tôi giải tù binh, chuyển tang vật thu được về bản, chôn cất 2 tên biệt kích bị chết.
Kết thúc trận đánh an toàn, hiệu quả. Ngày hôm sau, 9 tên biệt kích còn lại (3 tên bị thương nhẹ) buộc phải bò ra nương sắn của dân để kiếm ăn, lần lượt bị dân quân và các tổ mật phục của đồn, Huyện đội bắt sống. Kết thúc trận truy lùng toán gián điệp biệt kích (từ ngày 23-30/5/1970) thắng lợi. Trận phục kích tại suối Huồi Cáng được cấp trên khen ngợi và đánh giá cao. Về cá nhân ông, đây là trận chiến đấu mở đầu cho suốt cuộc đời binh nghiệp và điều quan trọng hơn là qua thực tế chiến đấu đã giúp ông hình thành được ý chí quyết tâm và lòng dũng cảm, sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu ở mặt trận K5 cũng như trong đấu tranh với kẻ địch và tội phạm sau này.



