Nguyễn Ngọc Bình – Người đặc công Quân khu 5 và trận đánh sân bay Chu Lai làm rung chuyển chiến trường
Nguyễn Ngọc Bình (1930–?), quê xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, Quảng Nam, nhập ngũ tháng 12/1948. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là trinh sát viên hoạt động tại Quảng Nam, Tây Nguyên, Khánh Hòa. Sau khi tập kết ra Bắc năm 1955, ông được lệnh trở lại miền Nam và từ năm 1955 đến 1961 hoạt động tại cơ quan Khu ủy Khu 5. Từ năm 1961, ông chuyển sang lực lượng đặc công và trở thành một cán bộ chỉ huy nổi bật của Tiểu đoàn 409, Quân khu 5. Trong những năm 1961–1967, ông chỉ huy đơn vị đánh 18 trận, trong đó có những trận đặc biệt nổi bật tại Đắk Hà, Núi Diêm, Gia Hựu và sân bay Chu Lai. Riêng trận tập kích sân bay Chu Lai đêm 22/3/1966, tư liệu ghi nhận đơn vị của ông phá hủy hơn 50 máy bay phản lực, đốt cháy một kho nhiên liệu, phá hủy 2 xe M.118 và tiêu diệt hơn 200 quân Mỹ. Ngày 17/9/1967, Nguyễn Ngọc Bình được trao Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng.
Thời kỳ lịch sử
Kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – chiến trường Khu 5, giai đoạn 1948–1967, tập trung vào hoạt động đặc công tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Tây Nguyên và Chu Lai.
. Người con Đại Hiệp
Nguyễn Ngọc Bình sinh năm 1930, quê ở xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc, Quảng Nam.
Đại Hiệp nằm ở phía tây bắc Đại Lộc, trên địa bàn có địa hình vừa đồng bằng vừa trung du, từ lâu là một vùng đất có phong trào cách mạng mạnh.
Người thanh niên Nguyễn Ngọc Bình bước vào quân đội từ rất sớm.
Tháng 12/1948, ông nhập ngũ.
Đất nước khi ấy vẫn đang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ông bắt đầu không phải với tư cách một người chỉ huy.
Mà là một trinh sát viên.
Công việc của người trinh sát là đi trước.
Quan sát.
Nắm tình hình.
Tìm đường.
Phát hiện địch.
Và trở về với những thông tin có thể quyết định một trận đánh.
Chú thích: Vùng đất Đại Hiệp – Đại Lộc, Quảng Nam, quê hương Anh hùng LLVTND Nguyễn Ngọc Bình.
Nguồn: Tư liệu về nhân vật và Ngân hàng tên đường, công trình công cộng tỉnh Quảng Nam.
2. Người trinh sát đi qua những chiến trường đầu tiên
Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Ngọc Bình hoạt động trên nhiều chiến trường:
Quảng Nam.
Tây Nguyên.
Khánh Hòa.
Những địa bàn ấy rất khác nhau.
Nhưng nhiệm vụ của người trinh sát thì giống nhau:
đi vào nơi nguy hiểm trước khi lực lượng chủ lực tiến vào.
Ông được đánh giá là người gan dạ, mưu trí và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Những năm tháng ấy rèn cho ông một phẩm chất đặc biệt:
khả năng nhìn thấy cơ hội chiến đấu từ những điểm yếu nhỏ nhất của đối phương.
Sau này, khi chuyển sang đặc công, phẩm chất đó trở thành một trong những yếu tố làm nên những trận đánh nổi tiếng của ông.
3. Tập kết ra Bắc rồi trở lại miền Nam
Tháng 5/1955, Nguyễn Ngọc Bình tập kết ra Bắc.
Nhưng ông chỉ ở miền Bắc một thời gian ngắn.
Ông nhận lệnh:
trở lại miền Nam.
Từ tháng 7/1955 đến tháng 4/1961, ông hoạt động tại cơ quan Khu ủy Khu 5.
Công việc rất đa dạng:
bảo vệ;
liên lạc;
cần vụ;
vận chuyển;
tổ chức đường dây;
xây dựng cơ sở địa phương.
Đây là giai đoạn tưởng như không có những trận đánh lớn.
Nhưng thực chất lại là thời kỳ ông hiểu rất sâu về chiến trường.
Ông đi qua cơ sở.
Tiếp xúc với cán bộ.
Gặp người dân.
Nắm địa hình.
Hiểu cách đối phương kiểm soát từng vùng.
Đó chính là vốn kinh nghiệm sau này ông mang vào lực lượng đặc công.
Chú thích: Căn cứ và hoạt động của lực lượng cách mạng Khu 5 trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ.
Nguồn: Tư liệu lịch sử Khu 5; hình ảnh mang tính minh họa bối cảnh.
4. Bước vào lực lượng đặc công
Tháng 4/1961, Nguyễn Ngọc Bình chuyển sang chiến đấu trong lực lượng đặc công.
Đây là bước ngoặt lớn.
Đặc công không đánh theo cách thông thường.
Họ không cần đông người.
Không cần hỏa lực mạnh.
Điều họ cần là:
bí mật.
bất ngờ.
chính xác.
và khả năng đánh thẳng vào nơi đối phương tưởng rằng được bảo vệ an toàn nhất.
Nguyễn Ngọc Bình nhanh chóng trở thành một cán bộ chỉ huy.
Theo hồ sơ nhân vật, trong giai đoạn tháng 4/1961 – tháng 1/1967, ông chỉ huy đơn vị đánh 18 trận, đều hoàn thành nhiệm vụ, trong đó có nhiều trận đặc biệt xuất sắc.
Và trận đầu tiên trong chuỗi chiến công ấy diễn ra ở Đắk Hà.
5. Đắk Hà – bốn lô cốt trong một trận đánh
Ngày 30/8/1961, đơn vị của Nguyễn Ngọc Bình tiến công quận lỵ Đắk Hà.
Địch chống trả quyết liệt.
Một mũi của ta chưa thể tiến lên.
Tình thế có thể trở nên bất lợi.
Nguyễn Ngọc Bình dẫn một tổ tiến thẳng vào.
Ông tự tay đánh sập bốn lô cốt.
Sau đó, lấy chính vũ khí của đối phương để đánh lại đối phương.
Kết quả:
hai trung đội bảo an bị tiêu diệt.
Đơn vị thu toàn bộ vũ khí.
Đây là một đặc điểm rất rõ trong cách đánh của Nguyễn Ngọc Bình:
Khi tình thế thay đổi, ông không chờ điều kiện hoàn hảo.
Ông tự mình tạo ra điều kiện để trận đánh tiếp tục.
Chú thích: Khu vực Đắk Hà, Tây Nguyên – địa bàn Nguyễn Ngọc Bình tham gia chiến đấu trong những năm đầu hoạt động đặc công.
Nguồn: Tư liệu lịch sử chiến trường Khu 5.
6. Núi Diêm – năm đêm không vào được cứ điểm
Tháng 11/1964, đơn vị Nguyễn Ngọc Bình nhận nhiệm vụ đánh cứ điểm Núi Diêm, thuộc xã Phổ Trung, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi.
Năm đêm liên tiếp.
Tổ trinh sát tìm cách tiếp cận.
Nhưng không thể vào.
Địch lùng sục.
Phục kích.
Các phương án thông thường đều không hiệu quả.
Nguyễn Ngọc Bình quyết định thay đổi cách tiếp cận.
Ông cải trang, lợi dụng lúc trời mưa lớn, dùng thuyền đi điều tra trận địa giữa ban ngày.
Đây là một quyết định cực kỳ táo bạo.
Bởi ban ngày chính là lúc đối phương dễ quan sát nhất.
Nhưng mưa lớn tạo ra một lớp màn tự nhiên.
Người trinh sát biến mất giữa cảnh vật.
Và ông đã tìm được thông tin cần thiết.
Sau đó, đơn vị tổ chức tiến công.
Chỉ sau 5 phút nổ súng, cứ điểm bị đánh chiếm.
Một đại đội quân ngụy bị tiêu diệt.
Toàn bộ vũ khí bị thu giữ.
Chú thích: Khu vực Đức Phổ, Quảng Ngãi – địa bàn gắn với trận đánh Núi Diêm năm 1964.
Nguồn: Tư liệu lịch sử chiến trường Quảng Ngãi.
7. Gia Hựu – bốn giờ giữa lưới lửa
Đêm 7 rạng 8/2/1965, chiến trường Bình Định chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa Xuân.
Mục tiêu là cứ điểm Gia Hựu.
Tình hình cực kỳ khó khăn.
Nguyễn Ngọc Bình dẫn đội dự bị vượt qua lưới lửa của địch, đánh chiếm đầu cầu.
Rồi ông tiếp tục tiến lên.
Một mình dùng lựu đạn và thủ pháo đánh thốc vào khu chỉ huy của đối phương.
Ông chiếm một điểm cao để tạo điều kiện cho các tổ khác phát triển vào trận địa.
Địch phản kích.
Lần thứ nhất.
Ông đánh bật chúng.
Lần thứ hai.
Ông tiếp tục giữ điểm cao.
Lần thứ ba.
Ông vẫn không rút.
Đạn hết.
Nguyễn Ngọc Bình bị thương.
Nhưng ông không rời trận địa.
Ông lấy vũ khí của địch để tiếp tục chiến đấu.
Trận đánh kéo dài 4 giờ.
Kết quả được hồ sơ ghi nhận:
diệt 70 quân địch;
bắt sống 29;
phá hủy một pháo 105 mm;
phá hủy một xe GMC;
thu một súng cối 60 mm;
thu ba khẩu đại liên và nhiều vũ khí khác.
Riêng Nguyễn Ngọc Bình được ghi nhận đã phá 5 lô cốt, diệt 20 quân địch.
Chú thích: Chiến trường Bình Định năm 1965 – bối cảnh trận đánh cứ điểm Gia Hựu của lực lượng đặc công Khu 5.
Nguồn: Tư liệu lịch sử Khu 5.
8. Chu Lai – mục tiêu lớn hơn tất cả
Những trận đánh trước đã cho thấy khả năng của Nguyễn Ngọc Bình.
Nhưng đến năm 1966, ông đứng trước một mục tiêu lớn hơn rất nhiều:
sân bay Chu Lai.
Chu Lai là một căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ tại Quảng Nam.
Tại đây có máy bay.
Có nhiên liệu.
Có phương tiện.
Có nhân viên kỹ thuật.
Và có hệ thống bảo vệ.
Đánh vào sân bay nghĩa là đánh vào một mắt xích quan trọng của hệ thống quân sự Mỹ tại Khu 5.
Nhưng muốn đánh được, trước hết phải hiểu đối phương.
Nguyễn Ngọc Bình bắt đầu nghiên cứu:
quy luật hoạt động của địch.
Khi nào máy bay tập trung.
Khi nào lực lượng bảo vệ thay đổi.
Những vị trí nào có thể tiếp cận.
Đường rút lui ở đâu.
Một trận đặc công có thể được quyết định từ nhiều ngày trước khi phát súng đầu tiên vang lên.
Chú thích: Sân bay Chu Lai – căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ trên chiến trường Khu 5 trong những năm 1960.
Nguồn: Tư liệu lịch sử chiến tranh Việt Nam; ảnh minh họa bối cảnh.
9. Đêm 22/3/1966
Đêm 22/3/1966.
Đơn vị đặc công dưới sự chỉ huy của Nguyễn Ngọc Bình tiến vào sân bay Chu Lai.
Không phải một cuộc tấn công trực diện.
Mà là một cuộc tập kích.
Nhanh.
Bất ngờ.
Đánh vào mục tiêu rồi rút.
Nhưng quy mô thiệt hại đối với đối phương rất lớn.
Theo hồ sơ nhân vật, đơn vị đã:
phá hủy trên 50 máy bay phản lực;
bắn cháy 2 xe M.118;
thiêu hủy một kho nhiên liệu;
tiêu diệt trên 200 quân Mỹ, phần lớn là phi công và nhân viên kỹ thuật.
Một trận đánh.
Một đêm.
Và một căn cứ không quân lớn bị giáng một đòn nặng.
Đó chính là kiểu chiến đấu mà đặc công Khu 5 đã phát triển:
lấy bí mật đánh vào nơi đối phương có ưu thế về hỏa lực.
10. Vì sao trận Chu Lai đặc biệt?
Nếu đánh một đơn vị bộ binh, mục tiêu chủ yếu là quân số.
Nhưng đánh sân bay, mỗi mục tiêu bị phá hủy có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống.
Một chiếc máy bay bị phá hủy là một tổn thất.
Một kho nhiên liệu cháy là một tổn thất khác.
Nhân viên kỹ thuật bị tiêu diệt lại là một tổn thất khác.
Và khi tất cả xảy ra trong cùng một đêm, hiệu ứng cộng hưởng rất lớn.
Vì thế, trận Chu Lai không chỉ là một chiến công của riêng Nguyễn Ngọc Bình.
Nó cho thấy khả năng tổ chức tác chiến đặc công của Quân khu 5 trong việc đánh vào những căn cứ quân sự được bảo vệ nghiêm ngặt.
Chú thích: Máy bay và khu vực căn cứ Chu Lai trong chiến tranh Việt Nam; hình ảnh minh họa cho mục tiêu của trận tập kích đêm 22/3/1966.
Nguồn: Tư liệu lịch sử chiến tranh Việt Nam.
11. Không chỉ có những trận đánh lớn
Tên tuổi Nguyễn Ngọc Bình thường được nhắc đến qua Đắk Hà, Núi Diêm, Gia Hựu và Chu Lai.
Nhưng hồ sơ còn ghi nhận nhiều trận đánh khác:
Trà Mi – tháng 2/1962
Trà Bồng – tháng 3/1962
Mỹ Trang – tháng 10/1964
An Lão – tháng 2/1965
Kỳ Sanh – tháng 2/1966
Hà Thanh – tháng 9/1966
Ở tất cả những trận này, đơn vị do ông chỉ huy đều hoàn thành nhiệm vụ.
Điều đó cho thấy Chu Lai không phải một chiến công đơn lẻ.
Đằng sau nó là nhiều năm tích lũy kinh nghiệm.
Từ một người trinh sát.
Đến người tổ chức.
Rồi người chỉ huy.
12. Người chỉ huy và người lính
Hồ sơ về Nguyễn Ngọc Bình đánh giá ông là một cán bộ chỉ huy có:
quyết tâm cao.
bình tĩnh.
khả năng xử trí tình huống phức tạp.
khả năng xây dựng đơn vị.
Nhưng có một chi tiết đáng chú ý:
Ông không chỉ được đánh giá là chỉ huy giỏi.
Mà còn là chiến đấu giỏi và xây dựng đơn vị giỏi.
Cuối năm 1966, tại Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ lần thứ 2 của Quân khu 5, ông được công nhận là ngọn cờ đầu “Cán bộ 3 giỏi”:
chỉ huy giỏi – chiến đấu giỏi – xây dựng đơn vị giỏi.
Đó là một đánh giá quan trọng.
Bởi một người chỉ biết xung phong có thể là một chiến sĩ dũng cảm.
Nhưng người chỉ huy phải làm được nhiều hơn:
đưa đồng đội vào trận và đưa họ trở về.
13. Những phần thưởng sau chiến công
Trong quá trình chiến đấu, Nguyễn Ngọc Bình được trao:
1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất;
2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.
Cuối năm 1966, ông được công nhận là ngọn cờ đầu “Cán bộ 3 giỏi” của Quân khu 5.
Đó là sự ghi nhận không chỉ đối với một trận đánh.
Mà đối với cả một quá trình.
14. Ngày 17/9/1967
Ngày 17/9/1967, Nguyễn Ngọc Bình được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng:
Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì
và
danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng.
Lúc ấy, ông mới 37 tuổi.
Nhưng phía sau danh hiệu ấy đã là gần hai mươi năm quân ngũ.
Từ năm 1948.
Qua chiến tranh chống Pháp.
Qua những năm tháng xây dựng cơ sở Khu 5.
Qua những trận đánh đặc công.
Và qua những căn cứ quân sự Mỹ mà đơn vị ông đã tìm cách đột nhập.
Chú thích: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Ngọc Bình, quê Đại Hiệp, Đại Lộc, Quảng Nam.
Nguồn: Hồ sơ nhân vật thuộc “Thư viện Ký ức sống mãi”; đối chiếu với Ngân hàng tên đường và công trình công cộng tỉnh Quảng Nam.
15. Một cái tên được đặt cho trường học ở Đại Hiệp
Sau chiến tranh, quê hương không quên người con của mình.
Trường Tiểu học Nguyễn Ngọc Bình được thành lập tại xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc.
Năm 2015, trường khánh thành tượng đài Anh hùng LLVTND Nguyễn Ngọc Bình ngay trong khuôn viên. Gia đình ông đóng góp kinh phí xây dựng tượng đài.
Đó là một hình thức tưởng niệm rất đặc biệt.
Không phải một tượng đài ở một quảng trường lớn.
Mà là một ngôi trường.
Nơi trẻ em đến học mỗi ngày.
Một cái tên từng gắn với những trận đánh ở Chu Lai, Bình Định, Quảng Ngãi giờ trở thành cái tên mà học sinh đọc lên mỗi sáng khi bước qua cổng trường.
Chú thích: Trường Tiểu học Nguyễn Ngọc Bình và tượng đài Anh hùng LLVTND Nguyễn Ngọc Bình tại xã Đại Hiệp, Đại Lộc, Quảng Nam.
Nguồn: Báo Giáo dục & Thời đại; Báo Đà Nẵng.
16. Từ người trinh sát đến người chỉ huy đặc công
Nhìn lại cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Ngọc Bình, có thể thấy một con đường rất rõ.
1948: nhập ngũ.
Kháng chiến chống Pháp: trinh sát trên nhiều chiến trường.
1955: tập kết ra Bắc rồi trở lại miền Nam.
1955–1961: hoạt động tại Khu ủy Khu 5.
1961: bước vào lực lượng đặc công.
1961–1967: chỉ huy 18 trận đánh.
1967: được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND Giải phóng.
Một người lính trưởng thành qua từng nhiệm vụ.
Không có bước nhảy nào tự nhiên.
Mỗi trận đánh lại thêm một kinh nghiệm.
Mỗi lần thoát khỏi vòng vây lại thêm một bài học.
Và cuối cùng, người trinh sát năm nào trở thành một trong những cán bộ đặc công tiêu biểu của Khu 5.
17. Nguyễn Ngọc Bình trong lịch sử Khu 5
Nếu phần XVI. KHU 5 – QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG cần những câu chuyện thể hiện đầy đủ các phương thức chiến đấu của chiến trường miền Trung, Nguyễn Ngọc Bình là một nhân vật rất đáng giữ.
Bởi ông đại diện cho một tuyến rất khác:
đặc công đánh căn cứ.
Không chỉ chiến đấu ở Quảng Nam – Đà Nẵng, ông còn hoạt động trên nhiều địa bàn của Khu 5:
Tây Nguyên – Quảng Ngãi – Bình Định – Chu Lai.
Vì vậy câu chuyện của ông giúp mở rộng phần XVI ra khỏi phạm vi riêng của Đà Nẵng.
Đó cũng là lý do nhân vật này phù hợp rất rõ với cấu trúc phần XVI.
Lời kết – Đêm Chu Lai và người chỉ huy đi lên từ trinh sát
Nguyễn Ngọc Bình bước vào quân đội năm 1948.
Khi ấy, ông chỉ là một người lính trẻ.
Ông đi qua những cánh rừng.
Những con đường.
Những chiến trường.
Rồi trở thành người trinh sát.
Sau đó là người bảo vệ và cán bộ của Khu ủy Khu 5.
Cuối cùng, ông trở thành một người chỉ huy đặc công.
Chú thích: Khu vực Chu Lai – Núi Thành, Quảng Nam ngày nay, nơi từng diễn ra những trận đánh ác liệt trong chiến tranh.
Nguồn: Tư liệu địa phương Quảng Nam; ảnh minh họa hiện trạng.
Ngày 22/3/1966, cái tên Nguyễn Ngọc Bình gắn với một trong những trận đánh đặc công đáng chú ý nhất trên chiến trường Khu 5:
sân bay Chu Lai.
Hơn 50 máy bay phản lực bị phá hủy, một kho nhiên liệu bị thiêu hủy và hơn 200 quân Mỹ bị tiêu diệt theo hồ sơ nhân vật.
Nhưng nếu chỉ nhớ Nguyễn Ngọc Bình vì trận Chu Lai thì vẫn chưa đủ.
Bởi trước Chu Lai đã có:
Đắk Hà.
Núi Diêm.
Gia Hựu.
Trà Mi.
Trà Bồng.
Mỹ Trang.
An Lão.
Kỳ Sanh.
Hà Thanh.
Mười tám trận đánh trong sáu năm.
Một người chỉ huy được đồng đội đánh giá là:
chỉ huy giỏi – chiến đấu giỏi – xây dựng đơn vị giỏi.
Ngày 17/9/1967, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng.
Và ở Đại Hiệp hôm nay, một ngôi trường mang tên ông.
Những đứa trẻ bước qua cánh cổng ấy có thể không biết rằng người được đặt tên cho ngôi trường từng đi trong bóng tối, từng cải trang giữa mưa lớn để trinh sát một cứ điểm, từng bị thương vẫn chiến đấu, và từng dẫn đặc công đánh thẳng vào sân bay Chu Lai.
Nhưng đó chính là cách lịch sử trở về với đời sống:
từ chiến trường, vào tên một ngôi trường;
từ một người lính, thành ký ức của cả quê hương.


