Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trào nước mắt khi ký Hiệp định Paris
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris ngày 27.1.1973 lịch sử.

Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968. Ảnh: Chụp lại tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Đối lập với sự phức tạp và ồn ào, trên các nền tảng mạng xã hội những ngày này, một từ khóa đặc biệt bỗng được lan tỏa, tìm kiếm diện rộng đính kèm theo các bài viết bày tỏ sự kính phục xen lẫn tự hào, đó là từ khóa về “Madame Bình” (Bà Nguyễn Thị Bình) trên bàn đàm phán tại Paris từ năm 1968 đến 1973.
Trên các nền tảng mạng xã hội, hình ảnh Madame Bình vừa lịch thiệp, mềm mỏng vừa cứng rắn, lạnh lùng trên bàn đàm phán gây xúc động mạnh mẽ. Người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé, đẹp và lịch thiệp, tự tin đứng trước báo chí quốc tế trả lời bằng nhiều thứ tiếng, kêu gọi dư luận khắp thế giới ủng hộ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đất nước hướng tới kỷ niệm 50 năm thống nhất, hình ảnh “Madame Bình” lan tỏa với sức truyền cảm hứng mạnh mẽ.
Cuộc đàm phán thay đổi lịch sử
Bà Nguyễn Thị Bình sinh năm 1927, tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa. Bà Nguyễn Thị Bình nguyên là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bà từng giữ chức Bộ trưởng Giáo dục, Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam.
Từ năm 1968 - 1973, bà Nguyễn Thị Bình giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam tại Paris.
Trong cuốn hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước”, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã có những chương dài viết về hành trình gần 5 năm bà và 2 phái đoàn ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ở Paris (Pháp) theo đuổi mục tiêu yêu cầu Mỹ xuống thang chiến tranh, tiến tới ký kết Hiệp định Paris.
Để Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27.1.1973 lịch sử, trong gần 5 năm là sự kết hợp “vừa đánh vừa đàm”, là cuộc giằng co căng thẳng, phức tạp giữa ta và Mỹ trên cả 3 mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao.

Bà Nguyễn Thị Bình trong thời khắc lịch sử ký kết vào Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam. Ảnh: Chụp từ tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân dân Việt Nam năm 1968, Mỹ và tay sai nhận ra rằng, họ không còn khả năng chiến thắng một dân tộc quyết chiến đấu đến cùng cho độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Mỹ buộc phải tính đến việc xuống thang chiến tranh trước khi sa lầy, một giải pháp chính trị sẽ giúp Mỹ rút khỏi cuộc chiến vô vọng này.
Cuộc đàm phán ở Paris được ví là mặt trận ngoại giao đầy cam go, thử thách. Trong hồi ký, bà Nguyễn Thị Bình viết, khi đến Paris tham gia cuộc đàm phán, “chúng tôi dặn nhau phải có thái độ đàng hoàng, tươi cười như đồng chí Xuân Thủy (trưởng đoàn ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đã nói. Hôm ấy, tôi mặc áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với khăn quàng cổ đen có điểm hoa”...
Sự nữ tính nhưng đầy quyết liệt của bà Nguyễn Thị Bình từng được ví, bà là người phụ nữ “khiêu vũ giữa bầy sói” trong sự vây bủa trên bàn đám phán ở Paris trước sự tấn công của phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Cũng trong gần 5 năm đàm phán, để có được lợi thế trên mặt trận ngoại giao, Mỹ tiến hành hàng loạt cuộc càn quét, mở những đợt tấn công khốc liệt trên chiến trường.
Theo ghi chép từ hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước”, giai đoạn từ 1970-1972, mặt trận ngoại giao và quân sự bước vào hồi quyết liệt, ở chiến trường khốc liệt bao nhiêu, mặt trận ngoại giao căng thẳng bấy nhiêu.
“Đường mòn Hồ Chí Minh bị bắn phá 24/24 giờ mỗi ngày. Các cảng ở miền Bắc bị thả thủy lôi bao vây. Tháng 3.1972, quân dân ta bắt đầu cuộc tiến công lớn ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Quảng Trị - Thừa Thiên Huế. Chiến dịch ở Quảng Trị kéo dài đến tháng 9.1972 là một trong những chiến dịch ác liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Ở Paris, chúng tôi từng giờ hướng về Quảng Trị, đặc biệt là về cuộc chiến đấu ở Thành cổ nổi tiếng... Chúng tôi biết các chiến sĩ của chúng ta đều rất trẻ. Họ hiểu, cuộc giành giật “đất” ở đây có nghĩa là giành lại Tự do, Độc lập cho Tổ quốc, và họ sẵn sàng hy sinh” - Trích trang 128 hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước”.
“Đặt bút ký vào Hiệp định Paris, tôi vô cùng xúc động”
Những cuộc chiến quả cảm của quân và dân ta trên chiến trường, từ Đường 9 Nam Lào, thành cổ Quảng Trị đến trận rải bom B52 của Mỹ vào Hà Nội... chính sức mạnh, tinh thần thép chiến đấu và sẵn sàng hy sinh ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho đoàn đàm phán trên mặt trận ngoại giao.

Hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình vừa được tái bản. Ảnh: Nhà xuất bản cung cấp
Bà Nguyễn Thị Bình viết, mỗi cuộc đàm phán đều là cuộc chiến cân não giữa ta và Mỹ. Giữa lúc Mỹ sa lầy, phái đoàn ngoại giao của ta nhận trả lời hàng nghìn bài báo quốc tế, tham gia những cuộc gặp gỡ với các nước trên thế giới, để đẩy mạnh dư luận quốc tế đứng về phía Việt Nam, ủng hộ hòa bình, phản đối Mỹ.
Để đến ngày 27.1.1973, khi không thể có được lợi thế trên chiến trường, Mỹ đã phải xuống thang, ký kết vào Hiệp định Paris lịch sử, cam kết rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam.
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình viết: “Đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động, nghĩ đến đồng bào, đồng chí, đến bạn bè ở cả hai miền Nam Bắc... Khi nhớ đến những người không còn nữa để biết được sự kiện này, tôi trào nước mắt”.
Nguồn: Báo Lao động


