Anh hùng Lao động

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình - Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

Nguyễn Thị Bình (tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927) là một nữ chính trị gia, Anh hùng Lao động người Việt Nam. Bà được biết đến khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị bốn bên về hoà bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968–1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút k

Lai Châu02/03/2026BCH Chi đoàn (Chi đoàn Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 7.1945, cả gia đình tôi có mặt tại Sài Gòn. Những ai đã sống qua thời ấy đều biết, theo tiếng gọi của non sông, mọi người dân Việt Nam đều muốn có mặt.

Ba tôi tham gia ngay Chi đội I miền Đông vì sẵn có bạn bè ở đó. Còn tôi, các chú gọi làm việc gì thì làm việc nấy. Một hôm có người nhắn tôi đến Nhà hát lớn Sài Gòn để gặp đồng chí Hà. Tôi tưởng sẽ gặp một nhà cách mạng đạo mạo, hóa ra là một người còn rất trẻ, nhiều lắm cũng chỉ khoảng 30 tuổi. Sau này được biết đồng chí là kỹ sư canh nông, tham gia phong trào Việt Minh từ sớm.

Công việc đầu tiên đồng chí Hà giao cho tôi là tham gia đón tiếp đại diện của lực lượng đồng minh Anh-Ấn đến Sài Gòn để giải giáp quân Nhật, vì đồng chí nghe nói tôi biết tiếng Anh. Đại diện của lực lượng đồng minh tôi tiếp xúc chủ yếu là người Anh, còn quân Ấn và cả một số lính lê dương chỉ làm nhiệm vụ canh gác.

Lần đầu tiên phải nói tiếng Anh với người Anh tôi hết sức lúng túng, nhưng ngại nhất là họ chỉ hỏi tôi về các nơi giải trí, nhảy đầm, những việc tôi hoàn toàn không biết, nên làm mấy ngày tôi xin thôi. Đồng chí Hà lại giao cho tôi một việc khác - sau này tôi hiểu đó là công tác tình báo - theo dõi một số nhân vật, xem họ làm gì, đi đâu. Đối với công việc này tôi cũng không quen nên chẳng theo dõi và điều tra được ai...

Tháng 7, tháng 8.1945, Sài Gòn sống những ngày sôi nổi. Ngày đêm người xe đi lại rầm rập. Những toán thanh niên tiền phong tập đi một, hai, hát vang bài Lên đàng của Lưu Hữu Phước. Đúng là không khí của “tiền khởi nghĩa”. Tấp nập nhưng hết sức trật tự, mọi người dường như nghe, cảm được hơi thở nóng hổi của một sự kiện trọng đại sắp nổ ra.


Nguyễn Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình ở tuổi 99
Sáng sớm ngày 2.9, hầu như tất cả nhân dân đều đổ ra đường. Tôi cùng hai em trai lớn cũng kéo về hướng quảng trường Nhà thờ Đức Bà, nơi chúng tôi được biết sẽ diễn ra sự kiện vô cùng quan trọng: đại diện của Chính quyền Cách mạng, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra mắt đồng bào.

Nhưng, cuộc tập hợp vừa xong thì từ dãy nhà của cha cố người Pháp có tiếng súng bắn vào đám đông. Cuộc tập hợp quần chúng trong hòa bình biến thành một cuộc nổi dậy của quần chúng. Không khí căng thẳng tràn ngập thành phố. Rõ ràng thực dân Pháp không cam chịu rút lui, chúng đang dùng mọi cách, kể cả chiến tranh, để chiếm lại Việt Nam. Đúng là quân Anh-Ấn của đồng minh đã giúp quân Pháp trở lại. Các cửa ngõ vào thành phố do quân Anh-Ấn canh gác không phải để giải giáp quân Nhật mà để ngăn chặn cuộc chiến đấu của chúng ta. Lập tức các lực lượng Việt Minh bắt đầu triển khai phương án tác chiến.

Tôi được giao nhiệm vụ chuyển mấy cây súng ngắn ở nội thành ra ngoại thành. Chúng tôi đều hăng hái thực hiện mọi nhiệm vụ, bất chấp hiểm nguy. Lúc này mọi người, đặc biệt là thanh niên, chỉ nghĩ đến hai từ Độc lập và Tự do của đất nước. Hai tiếng Độc lập và Tự do sao mà thiêng liêng!

Ngày 23.9, quân Pháp công khai gây hấn với Việt Minh. Súng đã nổ khắp nơi trong thành phố.

Ba tôi đi liên lạc với anh em ở Chi đội 1, chỉ còn tôi và mấy em nhỏ ở nhà thờ Cụ Phan bên Đa Kao. Nghe tiếng nổ xung quanh, tôi và hai em trai lớn bàn nhau lấy cây súng ngắn của ba tôi còn cất ở nhà, bảo nhau nếu quân địch xông vào nhà thờ thì chị em phải bắn, nhất định không để chúng bắt. May mà chúng chỉ đi qua, chúng tôi không phải dùng súng. Thật ra chị em chúng tôi cũng chưa bao giờ cầm cây súng, càng không biết bắn. Kể cả sau này đi kháng chiến, tôi cũng chưa học được cách bắn súng!

Mấy ngày sau, nhân dân thành phố lần lượt tản cư ra ngoại thành, tỏa về các tỉnh. Chúng tôi cũng tản cư về Lái Thiêu, nơi ông anh họ tôi có trang trại. Các em nhỏ tôi phải ở lại đấy, còn ba và ba chị em lớn chúng tôi bắt đầu tham gia kháng chiến, mỗi người một việc. Em thứ tư của tôi, là con trai, còn nhỏ nhưng rất gan dạ, được ba cử sang Campuchia chuyển một số thuốc nổ về cho công binh xưởng vừa hình thành để làm lựu đạn và mìn. Còn tôi và cậu em kế về Hồng Ngự, tỉnh Đổng Tháp, chuyển thực phẩm cho lực lượng vũ trang của ta ở miền Đông chuẩn bị chiến đấu. Các anh em họ tôi ở Sài Gòn, anh Hồng, anh Cống, anh Nông... cũng đều tham gia các tổ chức kháng chiến.

Ba tôi rất hiền nhưng đôi khi cũng nổi nóng, những lúc đó chúng tôi đều rất sợ. Sau khi mẹ tôi mất, ba tôi quan tâm nhiều hơn đến sinh hoạt của tôi, khuyến khích tôi học, chăm lo cho các em, chơi thể thao, nhưng không cho phép tôi đi hoạt động buổi tối. Vậy mà khi tổ chức cử tôi từ Sài Gòn đi về Hồng Ngự để làm công tác tiếp tế cho bộ đội (em thứ ba của tôi đã đi trước), ba tôi dẫn tôi đến bến cảng Sài Gòn. Ở đó, tàu, ca nô tấp nập, đầy ắp người. Ba tôi đi tìm hiểu tình hình một lúc rồi bàn với tôi phải đi từng chặng một, xuống Mỹ Tho rồi tìm ca nô về Hồng Ngự sau. Cho tôi đi một mình, cả hành trình như vậy, chắc ba tôi lo lắm, nhưng lúc này, việc nước là trên hết. Tôi cũng rất lo, từ trước đến giờ đã có khi nào phải xông pha thế này đâu! Nhưng thấy ba băn khoăn, tôi nói cho ông yên tâm: “Không sao đâu ba, con đi được mà!”

Tôi xuống tàu, trong tàu đã có độ 30 người ngồi sẵn. Hình như họ là dân lục tỉnh lên Sài Gòn giờ trở về quê. Không một ai quen, tôi ngồi co ro một chỗ, suốt đêm không dám ngủ. Sáng hôm sau đến Mỹ Tho, mọi người lên bờ. Tôi chưa hề đến Mỹ Tho nên chưa biết sẽ hỏi ai tàu về Hồng Ngự. Tôi đi rảo rảo ở đường, hỏi thăm cơ quan Việt Minh đóng ở đâu? Rất may gặp lại đồng chí Hà, và sau đó gặp một người bạn cũ thời ở Campuchia. Thế là tiếp tục chuyến đi về Hồng Ngự. Đến nơi mới biết anh họ tôi về đó làm ăn một thời gian, đã được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Hồng Ngự. Tôi rất mừng đã đi đến nơi đến chốn an toàn, nhưng khi bàn tới nhiệm vụ được giao là chở ruốc thịt bò về tiếp tế cho miền Đông thì lại rất gay: ngay sau khi tôi rời Mỹ Tho, Pháp đã chiếm thị xã này, rồi chiếm tiếp Sa Đéc, Châu Đốc. Đường về Sài Gòn đã bị nghẽn. Tôi phải ở lại Hồng Ngự một thời gian, làm thư ký cho Ủy ban Kháng chiến địa phương nhờ đó được tham dự cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập tại Hồng Ngự. Đúng ngày 6.1.1946, mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng, chu đáo, nhân dân nô nức kéo ra trụ sở ủy ban để bắt đầu sự kiện lớn, thì nghe có tiếng máy bay từ xa đến. Có người chạy ra nhìn, hô to: Máy bay ta! Máy bay ta! Nhưng liền đó một loạt bom rơi xuống. Hóa ra là máy bay Pháp đi phá bầu cử. Hơn mười người chết và bị thương. Nhưng buổi chiều cuộc Tổng tuyển cử vẫn được tiến hành.

Tôi phải ở lại Hồng Ngự đến tháng 5.1946. Pháp đã chiếm hầu hết các thành phố và thị xã lớn. Lực lượng kháng chiến rút về nông thôn, ở lại thành phố chỉ còn những cơ sở tiếp tục hoạt động bí mật. Ba tôi nhờ người đi đón hai chị em tôi từ Hồng Ngự về lại Sài Gòn. Cả gia đình lại tụ họp đông đủ ở nhà thờ Cụ Phan, nhưng chúng tôi không còn công khai được nữa. Nhiều gia đình bạn bè của ba tôi từ Campuchia về cũng cùng hoàn cảnh. Nhiều người không có nhà ở Sài Gòn đã đến ở cùng chúng tôi.

Lúc này chúng tôi rất khó khăn về tài chính. Dành dụm được ít tiền, ba tôi đã bỏ ra hết để xây nhà ở Phnom Penh, khi về nước đành giao lại cho mấy người bà con trông nom giùm. Để nuôi sống mấy chục con người ở Đa Kao, chúng tôi phải làm đủ nghề, kể cả nghề đi súc chai ở các xí nghiệp. Thấy bên cạnh nhà thờ Cụ Phan có mấy căn phố, tôi mở tiệm bán gạo, nước mắm và đủ thứ linh tinh như trứng vịt, cà chua, hành tỏi. Một số ông tham tán, kỹ sư sẵn sàng cùng ba tôi đi “thồ” gạo, trứng vịt từ chợ Cầu Ông Lãnh về cho tôi bán. Sài Gòn lúc này âm ỉ một không khí ngột ngạt và chờ đợi, người ta vừa lo cuộc sống qua ngày, vừa phập phồng chờ một điều gì đó sẽ đến, chưa rõ rệt, có thể hiểm nguy nhưng lại nóng lòng mong đợi. Không ai nói ra thật rõ ràng, nhưng đó là tâm trạng chung, ở người công nhân lao động cũng như người trí thức.

Tới giờ, các em tôi vẫn còn thích nhắc lại chuyện “chị Hai đi buôn cà chua ở chợ Tân Định”. Để bán được hàng nhiều thì phải ra ngồi ở chợ Tân Định, cách nhà hơn một cây số. Tôi vốn không quen gánh gồng nên đi vài chục thước đã phải đổi vai, đến nơi mướt mồ hôi. Ở chợ thường có một anh lính Tây lai đi thu thuế, có cảnh sát Tây đi kèm, hay kiểm tra giá cả. Một hôm chị bạn bán trứng vịt ngồi cạnh tôi đã phải giằng co với một cô đầm lai đến mua hàng. Giá “nhà nước” một trứng là 16 xu, nhưng chúng tôi mua tại gốc đã hơn 20 xu, nên bán lại ít nhất phải 25 xu. Viên cảnh sát quản lý thị trường đến can thiệp buộc chị bạn tôi phải bán mấy chục trứng theo giá “nhà nước”. Chị òa lên khóc. Tôi không cam lòng nên đã giở tiếng Pháp ra đối đáp với viên cảnh sát. Mọi người ngơ ngác. Tay cảnh sát và cô đầm lai cũng bất ngờ. Hai người nhìn nhau rồi bỏ đi. Chị em ở chợ cảm ơn tôi rối rít. Nhưng sau vụ đó các anh chị trong tổ chức không cho tôi ra bán hàng ở chợ Tân Định nữa.

Cuối năm 1946, nhiều gia đình quê miền Bắc tìm cách trở về Hà Nội lúc đó còn chưa bị Pháp chiếm đóng. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau toàn quốc kháng chiến nổ ra. Lửa chiến tranh bùng cháy trên cả nước.

Đầu năm 1947, để củng cố thế lực, quân Pháp ra sức khủng bố, đàn áp. Ở Sài Gòn, nhất là về đêm, luôn có những cuộc ruồng bố lùng bắt những người kháng chiến. Đền thờ Cụ Phan Châu Trinh ở số 13 Gallimard bị chúng lùng sục đến mười ba lần. Mấy lần ba tôi bị chúng bắt đi, tra tấn. Chị em chúng tôi ở nhà thương và lo cho ba, càng nung nấu căm thù địch. Cuối năm 1947, theo lệnh trên, ba tôi không còn ở thành phố được nữa, phải ra bưng biền 1. Tôi phải ở lại vừa đi làm gia sư kiếm tiền nuôi các em vừa hoạt động. Một thời gian sau, tổ chức thấy tôi ở mãi đền thờ Cụ Phan sẽ bị lộ, cần phải thoát ly đi nơi khác. Tôi đành bàn với ông anh họ là một doanh nhân yêu nước dọn đến đây ở để tôi gửi các em sống cùng. Thương các em quá, mà chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể thỉnh thoảng ghé qua thăm. Có lần tôi về, thấy đứa em út sốt cao, nằm co ro dưới bàn thờ ông ngoại, thật hết sức đau lòng. Đã có lúc tôi nghĩ hay là mình đừng thoát ly nữa để các em có người chăm sóc, dạy dỗ, nhưng rổi lại phải cố nén tình cảm mà vượt qua để tiếp tục hoạt động.

Tôi hoạt động bí mật ở Sài Gòn dưới cái vỏ ngoài là một cô giáo dạy tư. Tôi đã dạy Toán cho nhiều nhóm học sinh luyện thi, và có một thời gian dạy ở Trường Colette, là một trường Tây, dạy bằng tiếng Pháp. Hiệu trưởng là chị Nở, bạn tôi; học sinh phần lớn là con các quan chức của chính quyền Sài Gòn và con các gia đình khá giả.

Cuối năm 1946, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức Hội Phụ nữ Cứu quốc, bắt đầu là ở hộ 5, nơi gia đình tôi sống, rổi từng bước được cử lên Hội Phụ nữ Cứu quốc thành phố. Bạn cùng lớp hoạt động lúc bấy giờ có chị Nga, chị Hữu Bích, các chị Đạt, Hạnh, Tư Kiều, nhưng thân thiết nhất với tôi là Duy Liên 2. Duy Liên cùng tuổi với tôi, nhanh nhẹn, sắc sảo, đặc biệt có khuôn mặt rất trẻ. Khi hai chúng tôi bị bắt Liên khai sụt sáu tuổi, “là vị thành niên”, địch cũng tin. Hai chị lớn hơn là chị Bảy Huệ 3, sau này là vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh 4, người thủ trưởng kháng chiến đầu tiên của tôi, và chị Chín Châu. Tôi rất quý chị Bảy Huệ, người chị rất hiền hậu, đã chăm nom, dặn dò, bày vẽ cho tôi nhiều điều trong quan hệ với quần chúng. Chị thường bảo các chị em khác: “Yến - bí danh các chị đặt cho tôi lúc đó - là học sinh mới rời nhà trường, chưa biết gì lắm, cần giúp đỡ nó.” Thực tế là tôi đã tham gia tổ chức với tất cả lòng hăng hái của tuổi trẻ, mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc đấu tranh chung, nhưng còn chưa hiểu biết gì về chính trị. Để tôi quen với công tác quần chúng, các chị điều tôi đến sống với một gia đình nông dân ở Tân Phú Đông, ngoại ô Sài Gòn. Ở đó hằng ngày tôi phải quét một vườn cây ăn quả rất rộng, nấu cơm nấu nước... Bà cụ chủ nhà chê tôi không biết nấu ăn, dọn dẹp chưa gọn gàng. Tôi nghĩ đi làm “cách mạng” chẳng dễ chút nào! Nhưng rồi mấy tháng sau, cả gia đình đều thương tôi và bà cụ không còn chê tôi nữa.

Tôi được giới thiệu đến đồng chí Hoàng Quốc Tân của chi bộ mác xít Sài Gòn. Ở đấy tôi thấy có vài người Pháp cộng sản thường lui tới tôi mượn sách về chủ nghĩa mác Lê Nin, đọc suy vật, biện chứng nhưng cũng chỉ hiểu lõm bõm nhờ các cuộc họp với các anh chị ở chiến khu về hoặc lâu lâu ra bưng biền dự hội nghị. Dần dần tôi thu lượm được một số kiến thức về cách mạng và luôn có ý thức chuyển lại cho anh chị em cùng đơn vị. Trong những cuộc nói chuyện với các học sinh do tôi phụ trách, tôi đem những điều mới mẻ đó giảng lại được mọi người rất hoan nghênh. Tôi cũng cố gắng vận động những người quen biết, bấy giờ có Bùi Thị Cẩm là luật sư, vợ một trí thức nổi tiếng, tôi gọi là chị nhưng chị lớn tuổi hơn tôi rất nhiều. Chị hỏi tôi: “nên làm gì cho kháng chiến?”, tôi nói: “anh chị xem điều gì có lợi cho kháng chiến thì nên làm, điều gì có hải thì không nên”. Chỉ đơn giản như vậy mà chị cảm ơn tôi rối rít “em nói rất phải”, mới hay lòng yêu nước tiềm ẩn trong mỗi người và trong cuộc sống, có những hoàn cảnh mà những điều giản dị như vậy lại có thể là những chân lý lớn lao làm thay đổi cả cuộc đời con người. Về sau, chị Cẩm đã tham gia và giữ địa vị quan trọng trong kháng chiến ngoài công việc truyền tuyên, truyền, vận động quần chúng tôi còn tham gia cùng các bạn giải truyền đơn vận động bãi công, bãi thị, chống các âm mưu tội ác của địch.

Năm 1948, đồng chí Hồ Bắc ở cấp ủy quận, xuống gặp tôi nói các đồng chí ở quận đánh giá tôi hoạt động rất tích cực, định kết nạp tôi và đảng cộng sản Đông Dương, đồng chí giảng giải cho tôi về đảng, về Hồ Chí Minh là chủ tịch đảng, tôi nghe thấy rất hay nhưng xin để được suy nghĩ theo tôi làm đảng viên là phải hết sức gương mẫu, sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng cần lượng, đúng sức mình một thời gian sau, tôi đồng ý hai người giới thiệu tôi vào đảng là đồng chí Hồ Bắc và đồng chí Hồ Thị Chí vợ đồng chí Hà Huy Giáp.

Năm 1946, Hội nghị Fontainbleau thất bại, sự cố gắng kiên trì của chúng ta để tránh chiến tranh đã không thành. Lời Bác Hổ nói với toàn dân trong thời điểm trọng đại ấy thể hiện sâu sắc nguyện vọng thống thiết và ý chí của toàn dân tộc: “Chúng ta đã nhân nhượng, nhưng ta càng nhân nhượng kẻ thù càng lấn tới. Nhân dân ta không còn cách nào khác là phải chiến đấu để giành độc lập cho dân tộc mình.” Cả nước lắng nghe Người, và đồng loạt đứng dậy vì cuộc chiến đấu mất còn. Ở Sài Gòn, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân ngày càng sôi động. Tôi không chỉ làm công tác phụ nữ mà còn được giao phụ trách bồi dưỡng chính trị cho một số học sinh nòng cốt. Trong số này có Bình Thanh, học sinh Trường Marie Curie, học giỏi và rất tích cực. Chị em chúng tôi gắn bó với nhau lầu dài; sau này Bình Thanh là thư ký của tôi lúc tôi làm công tác ngoại giao. Ngoài công tác trong giới tiểu thương, lao động, tôi và Duy Liên còn được giao vận động phụ nữ trí thức tư sản. Đối với tôi đây là việc khó, các chị vốn quen nếp sống tự do, thoải mái, không thể gò vào khuôn khổ hoạt động chặt chẽ. Nhiều bữa đang họp, nghe tiếng còi xe, các chị liền đứng lên xin phép ra về để đi ăn cơm với chồng ở Chợ Lớn... Tuy nhiên các chị đều giàu lòng yêu nước, chỉ sau một thời gian vận động các chị đều đồng ý tham gia tổ chức Phụ nữ Cấp tiến. Tôi nhớ mãi chị Hạnh - bác sĩ, và chị Quỳnh Hoa 1 về sau là Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam. Khi bỏ Sài Gòn ra chiến khu, chị Quỳnh Hoa đã bị chính quyền Sài Gòn kết án tử hình vắng mặt và tịch thu gia sản.

Năm 1949, tôi và Duy Liên được giới thiệu sinh hoạt cùng chi bộ với luật sư Nguyễn Hữu Thọ 2. Là những học sinh mới rời khỏi nhà trường, nay đến văn phòng của một luật sư danh tiếng, một trí thức lớn của Việt Nam thế kỷ XX, chúng tôi rất bỡ ngỡ, hồi hộp. Văn phòng rất sang trọng, còn luật sư là một người cao đẹp. Ông tươi cười đón tiếp chúng tôi. Và từ đó, số phận của tôi, cuộc đời tôi trong nhiều giai đoạn hoạt động gắn bó với người trí thức lớn, người đồng chí ưu tú này. Chi bộ chúng tôi còn có chị Tám Lựu là bí thư, từng trải, đã tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1941. Bí thư thành ủy lúc này là đồng chí Nguyễn Văn Linh.

Cạnh luật sư Nguyễn Hữu Thọ, tôi không thể không nói đến bác sĩ Phạm Ngọc Thạch 3, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát 4 và nhiều trí thức miền Nam tôi từng được biết trong các thời kỳ công tác. Phần lớn họ là những người có địa vị cao, cuộc sống giàu sang, nhưng vì sự nghiệp lớn của dân tộc, vì cách mạng, họ đã gạt bỏ tất cả, dấn thân hết mình vào cuộc chiến đấu chung, đóng góp tinh hoa và trí tuệ cho đất nước. Theo tôi, đặc điểm lớn của trí thức Việt Nam bấy giờ là rất giàu lòng yêu nước. Họ là tinh hoa của dân tộc, tôi thật sự kính trọng và quý mến.

Để phong trào mở rộng và có tác dụng lớn, hoạt động bí mật không còn đủ nữa; cần phải đưa quần chúng ra đấu tranh công khai dưới nhiều hình thức hợp pháp và bất hợp pháp. Nhiều tổ chức ra đời: Hội Phụ nữ Cấp tiến, Hội Cứu trợ Nạn nhân Hỏa hoạn Tân Kiểng, các tổ chức công nhân, sinh viên, học sinh... Mỗi tầng lớp đều có tổ chức công khai, hợp pháp của mình. Đại diện chung cho các giới là Phái đoàn các giới do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu.

Cuối năm 1949, một số học sinh Trường Pétrus Ký 1 bị bắt. Một cuộc đấu tranh của học sinh trong trường bùng nổ, đòi phải thả những người đã bị bắt ra. Địch ngoan cố mở rộng bắt bớ khủng bố, càng thúc đẩy toàn thể học sinh thành phố đứng dậy đấu tranh. Ngày 9.1.1950, hàng ngàn học sinh kéo đến trước Dinh Thủ hiến Trần Văn Hữu 2 tại vườn hoa đường Lagrandière 3, giương cao các băng khẩu hiệu “Phải thả ngay các học sinh Pétrus Ký bị bắt!” Lực lượng kéo đến hỗ trợ ngày càng đông. Học sinh cử đoàn đại biểu đòi gặp Thủ hiến Trần Văn Hữu. Ông ta cho đóng chặt cổng, không tiếp. Đến trưa, địch đưa mấy chục xe và hàng trăm lính đến đàn áp. Học sinh chống cự nhưng không nổi. Anh Trần Văn Ơn 4, một học sinh lãnh đạo phong trào, đứng lại chặn đường cho các bạn chạy. Anh bị cảnh sát đánh matraque (dùi cui) liên tục, và khi anh leo qua rào thì trúng đạn của bọn chúng, ngã gục. Tin cuộc biểu tình và tin anh Trần Văn Ơn hy sinh nhanh chóng loan khắp thành phố như lửa cháy, gây phẫn nộ bừng bừng, là giọt nước tràn ly. Ngày 12.1, đám tang anh Trẩn Văn Ơn nhanh chóng biến thành cuộc biểu dương lực lượng lớn của các tầng lớp nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn, cả bà con từ Mỹ Tho, Bạc Liêu, Cần Thơ cũng kéo lên tham gia. Phái đoàn các giới do luật sư Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu gửi nhiều kiến nghị lên chính quyền Trần Văn Hữu đòi chấm dứt khủng bố, thả hết học sinh và những người liên quan bị bắt. Các đoàn thể công khai và bí mật liên tiếp họp bàn đối phó với địch. Đây cũng là lúc trên chiến trường cả nước đang có những chuyển biến quan trọng. Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 đã giải phóng ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn trên biên giới phía Bắc. Tình hình chung càng cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn. Chúng tôi được tin ngày 19.3.1950 hai chiếc tàu của Mỹ là soái hạm Stickvvell và khu trục hạm Anderson sẽ cập bến Sài Gòn. Đây là bằng chứng công khai về sự can thiệp của Mỹ, hỗ trợ cho thực dân Pháp đang gặp khó khăn về mọi mặt. Thành uỷ Sài Gòn thành lập ban chỉ đạo cuộc đấu tranh rộng lớn chống sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ, đổng thời chống đàn áp và khủng bố ngày càng tăng của địch ở các đô thị. Tôi được cử làm đại diện phụ nữ trong ban chỉ đạo chung. Chúng tôi vận động chuẩn bị cuộc bãi công bãi thị và biểu tình lớn sẽ được tổ chức đúng ngày 19.3.
8 giờ sáng hôm ấy nhân dân đã tập trung rất đông tại Trường Tôn Thọ Tường 1. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng một số đồng chí trong phái đoàn các giới vừa đến thì từ tầng cao của trường, các bộ phận được phân công tung truyền đơn xuống như mưa, hoan nghênh phái đoàn và đòi địch chấm dứt khủng bố. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ chưa kịp phát biểu thì mấy xe cảnh sát ập tới. Mọi người vừa chống lại cảnh sát vừa kéo ra đường tuần hành, hướng về chợ Sài Gòn, đi đầu là luật sư Nguyễn Hữu Thọ và nhiều trí thức Sài Gòn nổi tiếng, có cả một người phụ nữ Pháp là vợ đồng chí Phạm Huy Thông 2. Các đồng chí lãnh đạo công đoàn giương cao những lá cờ đỏ đã chuẩn bị từ trước. Đi đến đâu nhân dân hai bên đường lại đổ ra nhập thêm, chẳng mấy chốc đã biến thành một đoàn biểu tình khổng lổ, giương cao những lá cờ đỏ sao vàng cuồn cuộn tràn tới như nước lũ. Lá cờ xuất hiện hiên ngang giữa Sài Gòn bị chiếm gây xúc động sâu sắc, nhiều người không cầm được nước mắt.

Theo kế hoạch của ban chỉ đạo, nhiều cánh biểu tình từ nhiều phía dồn về Nhà hát lớn, rồi đổ ra bến cảng, nơi hai chiếc tàu Mỹ sẽ đến đậu. Thực tế là hai chiếc tàu này đã đến từ trước nhưng không dám vào sâu, chỉ đỗ xa bến cảng. Cánh biểu tình từ Trường Tôn Thọ Tường là cánh chính, và tôi đi cùng cánh này. Chúng tôi được chỉ thị những người trong ban chỉ đạo chỉ theo dõi, không được lộ diện chỉ huy. Nhưng hăng say giữa khí thế hừng hực của nhân dân, cả tôi và Năm Sứ, Duy Liên đều khó mà giữ nghiêm được kỷ luật. Lúc này, trước Nhà hát lớn, phía đường Lê Lợi, trên lầu hai của trụ sở phái đoàn Mỹ có treo một lá cờ Mỹ to tướng. Tôi vừa đến nơi thì thấy mấy anh thanh niên công kênh nhau lên để giật cờ Mỹ xuống. Nhìn quanh, biết có nhiều tay mật thám, tôi liền hô to: “Hãy bảo vệ anh em ta!” Lá cờ Mỹ vừa giật xuống đã bị xé tan tành. Anh thanh niên vừa nhảy xuống đất thì bị một tay mật thám chạy đến túm lấy. Không kịp suy nghĩ nhiều nhưng biết nếu chần chừ anh thanh niên sẽ bị chúng bắt. Tôi liền nhảy vào bấu xé giằng tay tên mật thám và đẩy anh thanh niên ra một bên. Bị bất ngờ, tên mật thám lỏng tay, anh thanh niên liền vùng chạy, len vào giữa đám quần chúng cũng cùng lúc xông tới. Còn tôi, nhìn lại thấy mình đang ở thế nguy hiểm giữa bầy lang sói, cũng vội lẫn vào đám đông chạy về phía tòa thị chính. Ở đây người biểu tình tập trung đông nhất, và đã xảy ra xung đột với cảnh sát. Tôi không nhớ tay chỉ huy người Pháp có bị thương không, nhưng chiếc xe của y đã bị quần chúng lật ngửa và đốt cháy, khói bốc lên đen kịt. Chúng tôi tiến ra bờ sông, vừa hô to: “Đả đảo thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ!”...

Mục đích của cuộc biểu tình là thị uy và thể hiện tinh thần chống đế quốc Mỹ tiếp tay cho thực dân Pháp. Trước khí thế của quần chúng, hai chiếc tàu Mỹ phải vội nhổ neo dời ra xa. Có người ước lượng đã có đến nửa triệu người biểu tình trong khi dân số Sài Gòn lúc bấy giờ là khoảng một triệu. Tôi thì có cảm giác cả thành phố đã xuống đường. Bộ máy chính quyền của địch choáng váng, tê liệt trong nhiều giờ. Chúng tôi bảo nhau: “Giá chúng ta có vũ khí, có khi cướp được chính quyền cũng nên!”

Còn bao nhiêu chuyện đáng kể về ngày 19.3 không thể quên ấy. Khi đoàn biểu tình từ Trường Tôn Thọ Tường kéo ra chợ Bến Thành thì gặp chuyến xe lửa Sài Gòn đi Mỹ Tho. Anh em công nhân đường sắt liền cho tàu dừng lại và nhảy xuống nhập vào cuộc tuần hành chung. Ở một cánh khác, bọn cảnh sát ném lựu đạn cay, nhiều người ngất xỉu, bà con hai bên đường mang nhiều xô nước, cả nước đá, xông ra cứu. Những người lãnh đạo biểu tình bị cảnh sát rượt bắt thì được quần chúng tìm cách bảo vệ, giải thoát...

Sau khi hoàn hồn, địch bắt đẩu mở những cuộc truy quét. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị chúng “hỏi tội” trước tiên. Nhưng chúng không dễ gì uy hiếp được ông và phái đoàn các giới do ông lãnh đạo. Ông vạch trần tội ác của địch, nêu rõ sự phẫn nộ của nhân dân là chính đáng, chính sự đàn áp khủng bố của chúng đã buộc nhân dân phải nổi dậy chống lại. Mãi mấy tháng sau chúng mới quyết định đưa ông đi an trí tận Lai Châu, ngoài Bắc.

Ở Sài Gòn vẫn liên tiếp nổ ra các cuộc biểu tình khác. Khoảng tháng 4.1950, địch âm mưu đốt xóm nhà lá ở Tân Kiểng, vùng Bàn Cờ, vốn là khu nhân dân lao động, căn cứ lõm của ta trong nội thành, để dồn dân đi nơi khác. Hàng trăm gia đình mất sạch nhà cửa, tài sản, lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Phái đoàn các giới cực lực lên án âm mưu địch, đòi chúng phải cứu trợ bà con. Các đoàn thể công khai hợp pháp tổ chức quyên góp giúp đỡ nạn nhân, và đây cũng là dịp tiếp tục phát động đưa quần chúng ra đấu tranh.

Ngày 12.5.1950, chị Trần Bội Cơ 3, nữ sinh Hoa kiểu, bị địch bắt và sát hại. Tôi cùng với đồng chí Liên, phụ trách Hoa vận, được giao nhiệm vụ tổ chức mít tinh tại Chợ Lớn vạch tội ác địch và kêu gọi bà con Hoa kiều sát cánh cùng người Việt đấu tranh để bảo vệ con em mình. Lần này tôi lại phạm khuyết điểm không chấp hành nghiêm kỷ luật là không được lộ mặt và mất cảnh giác. Giữa một đường phố đông đúc của Chợ Lớn, anh em đã đặt sẵn một cái bàn. Đúng giờ đã định, một thanh niên người Hoa nhảy lên phát biểu ý kiến. Tôi quan sát thấy không có ai bảo vệ anh ấy cả, liền xông ra kéo một số người đứng bao quanh anh. Anh ấy diễn thuyết được khoảng năm phút thì cảnh sát ập đến. Một vài người bị bắt tại chỗ, nhưng chúng tôi cũng đã gây được tiếng vang cẩn thiết.

Cuộc đấu tranh bên ngoài đã vang đến tận trong nhà tù của địch. Tháng 7.1950, anh em tù nhân Khám lớn Sài Gòn phát động tuyệt thực phản đối chế độ nhà tù hà khắc và ủng hộ các yêu sách của đồng bào bên ngoài. Tôi cũng được lệnh tổ chức một cuộc biểu tình của các gia đình có người ở tù trước Khám lớn Sài Gòn gồm chủ yếu là các chị em có chồng con bị tù.

Năm 1950 là một năm đặc biệt sôi nổi của phong trào nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn. Tôi không còn nhớ được hết các cuộc biểu tình chúng tôi đã tham gia tổ chức, nhưng do những hoạt động đó chúng tôi thường được anh em gọi là các “chuyên gia biểu tình”! Và cứ như thế, chúng tôi hăng hái lao vào cuộc đấu tranh.

Lúc này, chúng tôi cũng đã được nghe nói đến cuộc chuẩn bị tổng phản công trên toàn quốc, thúc giục chúng tôi càng hoạt động hăng hái hơn. Tôi được bầu làm Chủ tịch Hội Phụ nữ thành phố và Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Cứu quốc, trách nhiệm càng nặng nề, trong lúc việc gia đình cũng phải lo toan nhiều hơn. Hai em tôi đã đi thoát ly, nhưng còn ba em nhỏ ở nhà cùng với gia đình anh chị họ. Tôi phải thường xuyên lui tới thăm nom các em.
Theo Hồi ký Nguyễn Thị Bình

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình - Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp | Câu chuyện thời hoa lửa