Nguyễn Phú Xuyên Khung – Người chỉ huy tổ bộc phá trên đồi A1
Nguyễn Phú Xuyên Khung (1924–2014), quê Hà Nội, là cán bộ công binh, sau này là Đại tá, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Công binh 151. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được giao phụ trách lực lượng công binh đào đường hầm vào lòng đồi A1, đặt khối bộc phá lớn để phá hầm ngầm của quân Pháp. Sau 15–16 ngày đêm, đường hầm được đào tới vị trí đặt thuốc nổ; tổng khối thuốc nổ thực tế khoảng 960–1.030kg tùy cách tính nguồn. Tối 6/5/1954, ông chỉ huy tổ điểm hỏa và ra lệnh cho Nguyễn Văn Bạch giật nụ xòe, tạo tiếng nổ làm rung chuyển A1 và mở thời cơ cho bộ binh xung phong. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân năm 2014.
Nguyễn Phú Xuyên Khung sinh năm 1924 tại Hà Nội, là một trí thức sớm giác ngộ cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông xung phong vào quân đội. Qua nhiều vị trí công tác, đến tháng 3/1954, ông là Trưởng ban Tác huấn Trung đoàn Công binh 151 – đơn vị công binh chủ lực của quân đội ta lúc bấy giờ.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồi A1 là một trong những vị trí then chốt của tập đoàn cứ điểm. Sau nhiều đợt tiến công, quân ta đã chiếm được một phần đồi nhưng vẫn gặp khó khăn trước hệ thống hầm ngầm kiên cố của địch. Phương án được lựa chọn là đào một đường hầm bí mật vào lòng đồi, đưa một khối thuốc nổ lớn đến dưới khu vực hầm ngầm rồi cho nổ đúng thời điểm để tạo điều kiện cho bộ binh tổng công kích.
Nguyễn Phú Xuyên Khung được giao phụ trách lực lượng công binh thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. Một đội khoảng 25 cán bộ, chiến sĩ được tổ chức, làm việc ngay trước mũi súng của quân Pháp. Đất trên đồi A1 rất rắn; quân địch liên tục bắn súng và ném lựu đạn xuống khu vực đào hầm. Những người công binh phải làm việc trong điều kiện cực kỳ nguy hiểm và phải bảo đảm tuyệt đối bí mật.
Công việc càng đi sâu càng khó khăn. Đường hầm thiếu ánh sáng, thiếu dưỡng khí; đất đá đào lên phải được đưa ra ngoài mà không để địch phát hiện. Có lúc chỉ một người đào, một người quạt không khí; bên ngoài, các chiến sĩ nối tiếp nhau dùng quạt nan đưa không khí vào hầm. Những người lính công binh phải di chuyển trong đường hầm với nhiều tư thế khác nhau để tiếp tục khoét sâu vào lòng đồi.
Sau khoảng 15–16 ngày đêm, lực lượng công binh đã hoàn thành đường hầm với chiều dài khoảng 47–49m, tùy cách tính của từng tài liệu. Khối thuốc nổ được đưa vào vị trí cuối đường hầm. Các nguồn chính thống ghi con số khác nhau do cách tính lượng thuốc nổ: có tài liệu ghi khoảng 960kg, tài liệu khác ghi tổng lượng thuốc nổ thu gom và sử dụng khoảng 1.030kg. Vì vậy, cách gọi quen thuộc “quả bộc phá nghìn cân” là phù hợp, nhưng không nên tuyệt đối hóa một con số nếu không chú thích nguồn.
Ngày 6/5/1954, nhiệm vụ cuối cùng được chuẩn bị. Tổ điểm hỏa gồm những cán bộ, chiến sĩ được giao nhiệm vụ trực tiếp bảo đảm khối thuốc nổ phát nổ đúng giờ. Tư liệu của Báo Quân đội nhân dân xác định Nguyễn Phú Xuyên Khung là người chỉ huy tổ điểm hỏa.
Đúng 20 giờ 30 phút, mệnh lệnh điểm hỏa được truyền xuống. Nguyễn Phú Xuyên Khung ra lệnh cho Nguyễn Văn Bạch thực hiện việc giật nụ xòe. Chỉ ít giây sau, khối bộc phá phát nổ. Sức công phá làm phá hủy phần lớn công sự, lô cốt chính của địch trên đồi A1, khiến quân Pháp choáng váng và tạo thời cơ để bộ binh ta đồng loạt xung phong. Rạng sáng 7/5/1954, quân ta làm chủ A1.
Chi tiết này cần viết thật chính xác trong Một thời hoa lửa: Nguyễn Phú Xuyên Khung là người chỉ huy tổ điểm hỏa và ra lệnh; Nguyễn Văn Bạch là người trực tiếp giật nụ xòe điểm hỏa. Không nên viết rằng Xuyên Khung tự tay châm ngòi, bởi các tư liệu chính thống xác định rõ vai trò của từng người.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Nguyễn Phú Xuyên Khung tiếp tục công tác trong lực lượng công binh và tham gia chiến trường trong kháng chiến chống Mỹ. Ông từng giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Công binh 229. Ngày 21/10/2014, Chủ tịch nước ký quyết định truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những đóng góp trong hai cuộc kháng chiến, trong đó nổi bật là việc chỉ huy công binh đào hầm, bố trí lượng nổ và đánh sập một phần hệ thống hầm ngầm, lô cốt trên đồi A1.


