Nguyễn Phúc Chu
Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) là vị chúa Nguyễn thứ sáu cai trị vùng đất Đàng Trong (phía Nam nước Đại Việt) thời Lê trung hưng. Lên ngôi từ năm 1691 đến khi qua đời năm 1725, ông được người đương thời kính trọng gọi là Minh Chúa hoặc Quốc Chúa.
Trong 34 năm trị vì, ông đã đưa Đàng Trong phát triển vượt bậc về kinh tế, giáo dục, quân sự, đồng thời có công lao vĩ đại trong việc mở rộng bờ cõi về phương Nam và chấn hưng Phật giáo nước nhà.
Ông là con trai trưởng của Nghĩa vương Nguyễn Phúc Thái và Vương phi Tống Thị Lĩnh. Sử sách (Đại Nam Thực lục) ghi lại rằng trước khi ông chào đời, bầu trời xuất hiện luồng ánh sáng rực rỡ tỏa vào nơi ở của mẫu hậu, lúc sinh ra hương thơm ngào ngạt khắp nhà. Từ nhỏ, Nguyễn Phúc Chu đã nổi tiếng là người chăm học, chữ tốt, văn hay, võ giỏi. Ông sớm được phong chức Tả binh đinh Phó Tướng Tộ Trường Hầu.
Năm 1691, Chúa Nghĩa qua đời, Nguyễn Phúc Chu nối ngôi khi mới 17 tuổi. Dù tuổi đời còn trẻ, ông đã thể hiện tư duy của một minh quân:
- Khoan thư sức dân: Ngay khi lên ngôi, ông tự hiệu là Thiên túng đạo nhân, ra lệnh giảm một nửa thuế ruộng. Ông chủ trương "chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, bỏ xa hoa, bớt hình ngục", giúp nhân dân an cư lạc nghiệp trong bối cảnh cuộc chiến Trịnh - Nguyễn đang tạm lắng.
- Thắt chặt phòng thủ phía Bắc: Dù không còn giao tranh với chúa Trịnh, ông vẫn cho sửa sang các lũy kiên cố (từ núi Đầu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ), vẽ bản đồ các vùng hiểm yếu và thúc giục quân sĩ luyện tập để phòng ngừa bất trắc.
- Đúc Quốc bảo: Năm 1709, chúa cho đúc chiếc ấn vĩnh truyền mang dòng chữ: "Đại Việt Quốc Nguyễn Chúa Vĩnh Trấn Chi Bảo", khẳng định chủ quyền độc lập của Đàng Trong.
- Chính sách tôn giáo: Mùa thu năm 1699, triều đình thực hiện chính sách cấm đạo Thiên Chúa gay gắt, buộc giáo dân bỏ đạo, trục xuất các giáo sĩ phương Tây về nước và tịch thu sách vở Kitô giáo.
- Đối nội: Năm 1709, ông dập tắt thành công cuộc mưu phản nhằm chiếm Bình Khang, Phú Yên của Phò mã Tống Phúc Thiệu.
Công Cuộc Mở Mang Bờ Cõi Về Phương Nam
Dưới thời Chúa Minh, bản đồ nước Đại Việt được kéo dài đáng kể về phía Nam thông qua cả biện pháp quân sự lẫn ngoại giao.
* Với Chiêm Thành (Panduranga):
Năm 1692: Vua Chiêm là Bà Tranh đem quân quấy nhiễu phủ Diên Ninh. Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống binh Nguyễn Hữu Cảnh đem quân dẹp loạn, bắt sống Bà Tranh.
Năm 1693: Vùng đất Chiêm Thành đổi thành trấn Thuận Thành (lập ra phủ Bình Thuận). Sau một số cuộc nổi dậy của người Chăm, Chúa Nguyễn đã khôn khéo ký hòa ước, lập lại Thuận Thành Trấn dưới hình thức một khu tự trị, chúa Chăm làm Trấn vương (thuộc hạ của chúa Nguyễn) và buộc dân Chăm theo một số phong tục Việt.
*Với Chân Lạp và vùng đất Nam Bộ:
Năm 1699 - 1700: Vua Chân Lạp là Nặc Thu đắp lũy phản kháng. Chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh tiến quân chinh phạt, kinh đô La Bích thất thủ, Nặc Thu phải quy hàng.
- Thành lập Phủ Gia Định (1698): Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: Phước Long (dinh Trấn Biên - Biên Hòa) và Tân Bình (dinh Phiên Trấn - Sài Gòn). Cuộc di dân quy mô lớn từ châu Bố Chính vào Nam lập nghiệp được triển khai, thiết lập sổ sách, tô thuế công bằng. Người Hoa tại đây được quy lập thành xã Thanh Hà và xã Minh Hương.
- Thu phục đất Hà Tiên (1708): Mạc Cửu (người Quảng Đông) sau thời gian khai phá vùng đất Hà Tiên đã tình nguyện dâng thư xin quy thuộc chúa Nguyễn. Chúa chấp thuận và phong Mạc Cửu làm Thống binh trấn giữ Hà Tiên.
- Đụng độ với Xiêm La: Khi nội bộ Chân Lạp lục đục giữa Nặc Yêm và Nặc Thâm (được Xiêm hỗ trợ), chúa Nguyễn đã cử các tướng Nguyễn Cửu Vân, Trần Thượng Xuyên sang đánh tan quân Xiêm, bảo vệ đồng minh Nặc Yêm. Đây là trận chiến đầu tiên giữa chính quyền Việt - Xiêm trong lịch sử.
- Dẹp loạn giặc biển (1702): Chúa sai Trương Phúc Phan đánh đuổi bọn cướp biển người Anh đang chiếm đóng và xây sào huyệt tại đảo Côn Lôn, thu hồi của cải về bờ.
* Ngoại Giao Với Nhà Thanh:
Thấy thế nước giàu mạnh, bờ cõi mở rộng, năm 1702, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai người sang Trung Hoa cầu phong với hoàng đế Khang Hi nhà Thanh nhằm tách biệt Đàng Trong thành một quốc gia độc lập.
Tuy nhiên, triều thần nhà Thanh can gián rằng: Quảng Nam tuy hùng mạnh, đã thôn tính Chiêm Thành, Chân Lạp, nhưng An Nam vẫn còn nhà Lê đứng đầu nên không thể phong riêng. Do đó, việc cầu phong không thành.
* Chấn Hưng Phật Giáo Và Phát Triển Văn Hóa:
Nguyễn Phúc Chu là một cư sĩ Phật giáo vô cùng mộ đạo, có pháp danh là Hưng Long. Ông có công lớn trong việc định hình kỷ cương Phật giáo Đàng Trong:
Mời cao tăng truyền đạo: Năm 1694, ông mời Thiền sư Thạch Liêm (Thích Đại Sán) từ Quảng Đông sang thuyết pháp, tổ chức Đại giới đàn truyền giới cho hàng ngàn tăng ni, quan lại tại Phú Xuân.
* Trùng tu tôn tạo chùa chiền:
Cho đúc Đại hồng chung chùa Thiên Mụ (năm 1710) nặng hơn 2 tấn.
Đại trùng tu chùa Thiên Mụ (năm 1714) trở nên nguy nga, tráng lệ, đồng thời mở kho chẩn tế cho người nghèo nhân dịp khánh thành.
* Giáo dục & Thơ văn: Ông cho mở rộng Văn Miếu năm 1692, tổ chức các khoa thi tại phủ chúa để chọn nhân tài. Bản thân chúa cũng là một người đam mê văn học, sáng tác rất nhiều thơ ca, đặc biệt là những bài thơ khóc vợ chan chứa tình cảm.
Chúa Nguyễn Phúc Chu qua đời ngày 1 tháng 9 năm 1725, hưởng thọ 50 tuổi.
Nơi an táng: Lăng Trường Thanh, thuộc làng Kim Ngọc, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.



