NGUYỄN QUANG BÍCH – NGƯỜI GIỮ LỬA KHÁNG PHÁP NƠI TÂY BẮC
Nguyễn Quang Bích (1832–1890), hiệu Ngư Phong, quê ở làng Trình Phố, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định, nay thuộc tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ nổi tiếng thông minh, ông lần lượt đỗ tú tài, cử nhân rồi Hoàng giáp năm 1869 và đảm nhiệm nhiều chức vụ trong triều Nguyễn

Nguyễn Quang Bích (1832–1890), hiệu Ngư Phong, quê ở làng Trình Phố, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định, nay thuộc tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ nổi tiếng thông minh, ông lần lượt đỗ tú tài, cử nhân rồi Hoàng giáp năm 1869 và đảm nhiệm nhiều chức vụ trong triều Nguyễn. Là một vị quan thanh liêm, chính trực, ông được nhân dân kính trọng gọi là “Hoạt Phật”.
Năm 1876, Nguyễn Quang Bích giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa – vùng đất có vị trí chiến lược ở Tây Bắc. Khi thực dân Pháp đánh Hưng Hóa năm 1883, ông kiên quyết tổ chức chống trả. Thành thất thủ, ông không đầu hàng mà rút về Tam Nông, rồi Cẩm Khê để tập hợp lực lượng, chuẩn bị tiếp tục kháng chiến.
Hưởng ứng phong trào Cần Vương năm 1885, Nguyễn Quang Bích được giao trọng trách Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ và hai lần sang Trung Quốc cầu viện. Không nhận được sự giúp đỡ như mong muốn, ông trở về nước, tiếp tục xây dựng căn cứ tại Nghĩa Lộ, tập hợp nghĩa quân và dựa vào sự ủng hộ của nhân dân để chống Pháp.
Quân Pháp nhiều lần càn quét Văn Chấn, Văn Bàn, Đại Lịch và Nghĩa Lộ nhưng liên tiếp gặp phải những trận phục kích của nghĩa quân. Không khuất phục được ông bằng quân sự, Pháp tìm cách dụ dỗ, mua chuộc nhưng Nguyễn Quang Bích nhất quyết cự tuyệt.
Không chỉ là một thủ lĩnh kháng chiến, ông còn là một nhà thơ. Trong những năm tháng chiến đấu giữa núi rừng Tây Bắc, ông sáng tác nhiều bài thơ về cảnh sắc, con người và vận nước. Tập “Ngư Phong thi văn tập” với 97 bài thơ chữ Hán là một di sản tiêu biểu của văn thơ yêu nước cuối thế kỷ XIX.
Năm 1890, Nguyễn Quang Bích lâm bệnh và qua đời tại căn cứ Yên Lập. Ông được an táng trên núi Tôn Sơn, nơi từng gắn với cuộc kháng chiến của nghĩa quân.
Cuộc đời Nguyễn Quang Bích là câu chuyện về một người trí thức đã lựa chọn đứng về phía nhân dân khi đất nước lâm nguy. Ông cầm quân giữa núi rừng, cầm bút giữa khói lửa và giữ trọn khí tiết cho đến cuối đời. Tên tuổi ông vì thế vẫn được nhắc nhớ như một biểu tượng của lòng yêu nước và ý chí chống ngoại xâm trong những năm tháng cuối thế kỷ XIX.



