NGUYỄN QUANG DIÊU – NGƯỜI CHÍ SĨ VƯỢT NỬA VÒNG TRÁI ĐẤT VÌ NON SÔNG
Cuối thế kỷ XIX, trên mảnh đất Cao Lãnh hiền hòa của vùng Đồng Tháp, có một cậu bé ra đời trong một gia đình khá giả, mang tên Nguyễn Quang Diêu. Từ thuở nhỏ, cậu đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, tính tình điềm đạm nhưng cương trực, khoan dung mà dũng cảm. Trong trái tim người thanh niên ấy luôn cháy bỏng một ngọn lửa yêu nước âm thầm nhưng mãnh liệt.
Khi phong trào Duy Tân dấy lên khắp ba miền đất nước, Nguyễn Quang Diêu không thể đứng ngoài. Ông hăng hái tham gia hoạt động cùng nhiều chí sĩ yêu nước như Nguyễn An Khương, Nguyễn Thần Hiến, Bùi Chí Nhuận. Năm 1907, ông bí mật đặt trụ sở hoạt động tại chùa Linh Sơn (Cao Lãnh), rồi từ đó mở rộng liên lạc sang các ngôi chùa khác, biến cửa Phật thành nơi ươm mầm cứu nước.
Năm 1912, khi Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục Hội, Nguyễn Quang Diêu lập tức đứng vào hàng ngũ mới. Tháng 5 năm 1913, ông dẫn đầu một đoàn 12 người vượt biên sang Cao Miên, rồi sang Xiêm La, với quyết tâm tìm đường sang Trung Hoa liên lạc với Tổng bộ cách mạng. Nhưng chí lớn chưa thành, đến Hương Cảng, cả đoàn bị cảnh sát Anh phát hiện, bắt giữ và giao cho mật thám Pháp.
Trong phiên tòa thực dân, Nguyễn Quang Diêu bị coi là kẻ cầm đầu, lãnh án 10 năm khổ sai, bị đày sang Guyane (Nam Mỹ) – một nơi cách quê hương nửa vòng trái đất. Giữa hòn đảo xa lạ, không tiếng Việt, không đồng bào, không đồng chí, kẻ thù tin rằng ý chí người chí sĩ sẽ bị chôn vùi mãi mãi.
Nhưng chúng đã lầm.
Trong ngục tù Mác-xây, Nguyễn Quang Diêu vẫn nuôi chí lớn, gửi gắm tâm can vào thơ:
“Nếm mật nằm gai đành tạm lúc,
Sổ lồng tháo cũi hẳn chờ khi…”
Đầu năm 1917, bằng ý chí và mưu trí phi thường, ông vượt ngục, trốn sang đảo Trinidad thuộc Anh. Sống giữa người ngoại quốc, ông học thêm tiếng Pháp, tiếng Hoa, tiếng Anh, hòa mình vào cộng đồng Hoa kiều để che giấu tung tích. Cuối năm 1920, sau bao năm lưu lạc, Nguyễn Quang Diêu trở lại Hồng Kông, rồi đến Quảng Châu gặp lại Phan Bội Châu.
Cuộc hội ngộ khiến ai nấy đều sửng sốt. Người tưởng đã chết nơi rừng thiêng nước độc nay lại hiên ngang trở về. Đau xót trước sự hy sinh của nhiều đồng chí, ông càng dồn hết tâm lực cho cách mạng, quyết bù đắp những năm tháng bị giam cầm.
Năm 1927, ông bí mật về nước với tên mới Trần Văn Vẹn. Dù bị mật thám Pháp lùng bắt gắt gao, ông vẫn kiên trì hoạt động, dịch các tác phẩm Tam dân chủ nghĩa, Ngũ quyền hiến pháp của Tôn Dật Tiên, truyền bá tư tưởng tiến bộ cho đồng bào. Khi có người đứng ra bảo trợ, ông về làng Vĩnh Hòa dạy học, bốc thuốc, làm thơ – lấy văn chương làm vũ khí nuôi dưỡng tinh thần yêu nước.
Những áng thơ như Viếng Hoàng Hoa Cương, Sầu non nước, Tự do diễn ca, Ngỏ cùng nữ giới… đến nay vẫn còn lưu lại, là minh chứng cho một tấm lòng son sắt với non sông.
Mùa hè năm 1935, sau một đời vì nước quên mình, Nguyễn Quang Diêu qua đời, hưởng thọ 57 tuổi. Ông ra đi lặng lẽ, nhưng cuộc đời ông là bản anh hùng ca bất diệt – của một chí sĩ dám vượt nửa vòng trái đất, vượt ngục tù đế quốc, để trọn vẹn hiến dâng cho độc lập dân tộc.



