NGUYỄN QUANG HẠNH CỰU CHIẾN BINH
NGUYỄN QUANG HẠNH CỰU CHIẾN BINH
Hồi ức của ông Nguyễn Quang Hạnh – một người lính quân y trong kháng chiếnÔng Nguyễn Quang Hạnh sinh ra trong một gia đình đông con ở vùng Nhị Mỹ. Trên ông có hai người chị lớn đã lập gia đình từ sớm, cha ông sau này tái hôn và sinh thêm nhiều anh em, tổng cộng sáu người con. Hoàn cảnh gia đình không mấy khá giả, bản thân ông chỉ học hết bậc tiểu học, đến khoảng mười lăm, mười sáu tuổi thì ở nhà lao động phụ giúp gia đình. Quê hương ông nằm trong vùng giải phóng, gần các đồn bốt của Mỹ – ngụy, nên từ nhỏ ông đã sớm chứng kiến cảnh chiến tranh, bom đạn và hoạt động cách mạng diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt.Gia đình ông có nhiều mối liên hệ với cách mạng. Anh rể của ông là bộ đội Việt Minh từ năm 1954, không tập kết ra Bắc mà ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động, công tác trong lực lượng quân y của tỉnh. Ngay trong nhà ông từng có hầm bí mật, là nơi cán bộ xã, bí thư thường xuyên lui tới trú ẩn, ăn cơm và bàn công việc. Chính những điều đó đã khiến ông sớm hiểu và cảm nhận được con đường cách mạng, dù cha ông không phải là người bộc lộ rõ sự ủng hộ.Khoảng năm 1968, khi ông mười tám, mười chín tuổi, người anh rể về thăm gia đình, thấy ông đã lớn liền khuyên ông tham gia cách mạng. Được cha đồng ý, ông theo anh rể xuống đơn vị quân y thuộc Quân khu, trở thành chiến sĩ quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tại đây, ông được phân công làm công tác nha khoa trong quân y, chuyên nhổ răng, trồng răng, làm răng giả và chăm sóc thương binh giữa điều kiện vô cùng thiếu thốn.Những năm cuối thập niên 1960 là quãng thời gian ác liệt nhất. Đơn vị quân y của ông đóng ở khu vực Thanh Hưng – nơi từng diễn ra những trận đánh lớn, tàu Mỹ bị đánh chìm hàng loạt. Địch liên tục càn quét, pháo kích dữ dội. Thương binh ngày càng nhiều, hy sinh liên tiếp xảy ra, có những lúc cái chết đến quá gần, khiến con người dần quen với mất mát. Ông từng trực tiếp tham gia vận chuyển thi thể đồng đội bằng xuồng giữa đêm tối, lòng run sợ nhưng vẫn phải nén đau thương để hoàn thành nhiệm vụ.Trong một lần làm nhiệm vụ đưa thương binh xuống hầm bí mật, ông không may bị trúng pháo, bị thương nặng và mù tạm thời cả hai mắt. Đồng đội đã kịp thời đưa ông đi cấp cứu, phẫu thuật và điều trị. Sau nhiều tháng, thị lực của ông dần hồi phục. Khi sức khỏe ổn định, ông được chuyển về trại nuôi dưỡng thương binh, rồi đến cuối năm 1971, ông nhận lệnh ra miền Bắc an dưỡng cùng nhiều thương binh nặng khác. Ông được an dưỡng tại nhiều nơi như Thanh Liêm (Nam Định), Gia Viễn (Ninh Bình), sống trong sự chăm sóc của hậu phương miền Bắc những năm cuối chiến tranh.Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông tiếp tục điều trị, sinh hoạt trong các cơ sở an dưỡng cho đến năm 1976 thì được đưa trở lại miền Nam. Từ đó đến nay, ký ức về một thời tuổi trẻ gắn liền với bom đạn, thương binh và đồng đội đã ngã xuống vẫn luôn in đậm trong tâm trí ông. Cuộc đời ông là minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng của những người lính quân y – những con người không trực tiếp cầm súng nơi tuyến đầu, nhưng đã góp phần giữ gìn sự sống giữa chiến trường khốc liệt.



