NGUYỄN RIỀNG – NGƯỜI ANH HÙNG GẮN ĐỜI BINH NGHIỆP VỚI NGHĨA VỤ QUỐC TẾ
Nguyễn Riềng sinh năm 1927, quê Duyên Nổ, Phú Vang, Thừa Thiên Huế, nhập ngũ tháng 11-1945. Trong kháng chiến chống Pháp, ông trải qua hơn 50 trận chiến đấu, nổi bật tại Hà Thành, Thuận Phước, Quang Thiện, Ninh Mã và Kiệt Ngôn; nhiều lần bị thương vẫn không rời trận địa. Ngày 7-5-1956, khi là Tiểu đoàn phó bộ binh, bộ đội tình nguyện, ông được tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng LLVTND. Năm 1968, Nguyễn Riềng tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào trong đội hình Sư đoàn 968, tham gia nhiều chiến trường và Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Gắn bó phần lớn đời binh nghiệp với Sư đoàn 968 và đất bạn Lào, Đại tá Nguyễn Riềng giữ cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 giai đoạn 1979–1984, trở thành hình ảnh đẹp của lòng dũng cảm và tình đoàn kết Việt Nam – Lào.
Trong những trang sử của Quân đội nhân dân Việt Nam, có những người lính không chỉ dành tuổi trẻ cho cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc mà còn dành phần lớn cuộc đời binh nghiệp để thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất bạn Lào. Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Riềng là một người như thế.
Nguyễn Riềng sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê xã Duyên Nổ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cha mẹ làm phu đập đá, cuộc sống quanh năm vất vả, thiếu thốn nên từ nhỏ đồng chí đã phải đi làm thuê để phụ giúp gia đình.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một con đường mới. Tháng 11-1945, Nguyễn Riềng tình nguyện nhập ngũ. Từ một thanh niên nghèo xứ Huế, đồng chí bước vào cuộc đời quân ngũ kéo dài qua nhiều chiến trường và sau này trở thành một cán bộ chỉ huy của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Hơn 50 trận chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp
Từ cuối năm 1945 đến năm 1954, Nguyễn Riềng chiến đấu tại Cực Nam Trung Bộ và chiến trường miền Tây, trải qua hơn 50 trận đánh.
Tháng 10-1948, trong trận Hà Thành, tiểu đội Nguyễn Riềng đi đầu đội hình đại đội thì bất ngờ gặp một trung đội lính lê dương đang càn quét. Trước sức tiến công của đối phương, đồng chí không đối đầu một cách bị động mà nhanh chóng dẫn tiểu đội bí mật vòng ra phía sau.
Khi thời cơ đến, Nguyễn Riềng cùng đồng đội bất ngờ sử dụng lựu đạn, lưỡi lê đánh giáp lá cà. Cùng lúc, lực lượng phía trước của ta nổ súng.
Bị tiến công từ hai hướng, đối phương hoang mang rút chạy. Theo tư liệu, trận này quân ta diệt 9, bắt sống 4 và thu 14 khẩu súng, trở thành một chiến thắng có ý nghĩa cổ vũ lớn đối với bộ đội và nhân dân trên chiến trường.
Bị thương cả hai chân vẫn tiếp tục chiến đấu
Chỉ một tháng sau, trong trận Thuận Phước tháng 11-1948, đơn vị lần đầu tiến công một vị trí có công sự vững chắc. Do kinh nghiệm còn hạn chế và hỏa lực đối phương mạnh, lực lượng xung kích gặp nhiều khó khăn.
Nguyễn Riềng dẫn một tổ vượt qua khu vực bị hỏa lực khống chế, bí mật áp sát một ụ súng đang cản trở đội hình tiến công.
Ông kiên nhẫn chờ đúng lúc đối phương ngừng bắn để thay băng đạn rồi bất ngờ dùng tiểu liên dập tắt hỏa điểm, mở đường cho đơn vị phát triển tiến công.
Trong trận đánh, Nguyễn Riềng bị thương cả hai chân.
Nhưng ông vẫn nén đau, không rời vị trí và tiếp tục chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc.
Đó là một trong những hành động thể hiện rõ phẩm chất của Nguyễn Riềng: đã nhận nhiệm vụ thì quyết tâm thực hiện đến cùng.
Chủ động đứng ra chỉ huy khi đơn vị gặp khó khăn
Tháng 12-1948, tại Quang Thiện, Nguyễn Riềng tiếp tục dẫn đầu tiểu đội đánh vào phía sau đội hình hai trung đội lê dương.
Sau khi tiêu diệt một bộ phận đối phương, ông phát hiện một khẩu đại liên đang khống chế đội hình xung phong của quân ta.
Nguyễn Riềng bí mật bò tới, bất ngờ tiêu diệt xạ thủ, chiếm khẩu đại liên rồi sử dụng chính khẩu súng này bắn vào đội hình đối phương, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên.
Cũng trong tháng 12-1948, tại Ninh Mã, đơn vị phục kích một đoàn xe thiết giáp trên đường số 1. Khi trận đánh bắt đầu, hai xe thiết giáp phía sau bắn mạnh vào đội hình quân ta và trung đội trưởng hy sinh.
Đơn vị nhất thời mất người chỉ huy.
Trong thời điểm khó khăn ấy, Nguyễn Riềng chủ động động viên đồng đội giữ vững quyết tâm rồi dẫn đầu tiểu đội xung phong ra mặt đường đánh xe thiết giáp.
Hành động quyết đoán của ông đã kéo cả đơn vị tiến lên, góp phần nhanh chóng giải quyết trận đánh.
Kiệt Ngôn – trận đánh thể hiện tài ứng biến
Tháng 5-1950, trên chiến trường nước bạn, Nguyễn Riềng cùng tổ súng máy giữ một điểm cao nhằm thu hút và chặn đối phương, tạo điều kiện để lực lượng lớn bí mật cơ động đánh vào phía sau.
Sau hai đợt tiến công, súng máy hết đạn, trong khi lực lượng chủ lực vẫn chưa xuất hiện.
Đối phương lại tiếp tục tiến lên.
Trước tình thế đó, Nguyễn Riềng không rút khỏi trận địa. Ông cho đồng đội giữ khẩu súng máy tại chỗ để nghi binh, còn mình sử dụng tiểu liên, kê lên thùng đạn, bắn từng loạt ngắn để ngăn đối phương.
Khi nhận thấy đội hình phía sau của đối phương bắt đầu rối loạn, biết lực lượng chủ lực đã tiến công, Nguyễn Riềng lập tức tăng cường hỏa lực, dồn đối phương trở lại.
Theo tư liệu, trận đánh kết thúc với việc quân ta tiêu diệt gọn hai trung đội, gồm một trung đội lính Âu Phi và một trung đội lính bản địa.
Chiến thắng tạo niềm tin trong nhân dân địa phương, đồng thời góp phần thuận lợi cho việc củng cố cơ sở và mở rộng vùng giải phóng trên đất bạn.
Không chỉ chiến đấu – còn xây dựng cơ sở cách mạng
Một nét nổi bật khác trong cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Riềng là ông không chỉ giỏi chiến đấu.
Từ cuối năm 1950 đến 1954, đồng chí tích cực tham gia công tác vận động quần chúng, cùng nhân dân tăng gia sản xuất, xây dựng và dìu dắt các đơn vị dân quân du kích, củng cố chính quyền cách mạng và góp phần xây dựng vùng căn cứ của nước bạn.
Những hoạt động ấy thể hiện tinh thần quốc tế của người lính tình nguyện Việt Nam: chiến đấu bên cạnh nhân dân bạn, đồng thời giúp nhân dân xây dựng lực lượng để tự bảo vệ thành quả cách mạng của mình.
Với những thành tích xuất sắc, Nguyễn Riềng được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, 5 lần được trung đoàn và Liên khu khen thưởng và được công nhận Chiến sĩ thi đua Liên khu 5.
Ngày 7-5-1956, khi là Tiểu đoàn phó bộ binh, bộ đội tình nguyện, Nguyễn Riềng được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
Trở lại chiến trường Lào
Cuộc đời binh nghiệp của Nguyễn Riềng chưa dừng lại sau kháng chiến chống Pháp.
Năm 1968, ông tiếp tục tham gia lực lượng quân tình nguyện Việt Nam tại Lào trong đội hình Sư đoàn 968, hoạt động trên nhiều địa bàn như Savannakhet, Champasak, Salavan...
Đặc biệt, trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971, Sư đoàn 968 tham gia phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu ở hướng Nam, góp phần đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719.
Tại khu vực Pắc Xoòng – cao nguyên Bô Lô Ven, các lực lượng cách mạng Việt Nam – Lào tiến công mạnh, mở rộng vùng giải phóng và củng cố căn cứ kháng chiến ở Nam Lào.
Những năm tháng ấy tiếp tục nối dài hành trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế mà Nguyễn Riềng đã bắt đầu từ thời kháng chiến chống Pháp.
Từ Tây Nguyên đến ngày đất nước thống nhất
Năm 1974, Sư đoàn 968 trở về Việt Nam và làm nhiệm vụ tại chiến trường Tây Nguyên.
Trong những tháng quyết định của mùa Xuân 1975, đơn vị tham gia chiến đấu trên các địa bàn Pleiku, Kon Tum, sau đó phát triển xuống Bình Định, Phù Cát và Quy Nhơn, góp sức vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Năm 1976, Sư đoàn 968 một lần nữa trở lại Lào tiếp tục nhiệm vụ quốc tế.
Nguyễn Riềng gắn bó phần lớn cuộc đời quân ngũ với đơn vị và với đất nước Lào. Từ 1979 đến 1984, Đại tá Nguyễn Riềng giữ cương vị Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968.
Một cuộc đời – hai chữ “nghĩa tình”
Từ người thanh niên nghèo phải đi làm thuê ở Phú Vang đến Đại tá, Sư đoàn trưởng, hành trình của Nguyễn Riềng trải dài qua gần bốn thập niên quân ngũ.
Ông từng bị thương nhưng vẫn chiến đấu; từng đứng ra chỉ huy khi đơn vị mất người chỉ huy; từng giữ trận địa khi hỏa lực cạn kiệt; rồi nhiều năm cùng đồng đội sống và chiến đấu trên đất bạn.
Nếu những chiến công thời trẻ cho thấy lòng dũng cảm, thì những năm tháng gắn bó với lực lượng quân tình nguyện lại làm nổi bật một phẩm chất khác: tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Lào.
Nguyễn Riềng vì thế không chỉ là một Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn là hình ảnh tiêu biểu của những người lính Việt Nam đã dành phần lớn cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế.


