NGUYỄN SẮC KIM (1918 - 1950)
Đồng chí Nguyễn Sắc Kim, bí danh Hạ, sinh năm 1918, tại làng Tịnh Sơn, phủ Tam Kỳ, nay thuộc thôn Thạnh Trung, xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Cũng như nhiều người dân ở Tam Mỹ Tây, tuổi thơ của Nguyễn Sắc Kim đã trải qua những năm tháng nhọc nhằn ở một vùng quê mà củ khoai, lát sắn đôi lúc không đủ để ăn.
Việc học chữ của Nguyễn Sắc Kim cũng dang dở do một phần kinh tế gia đình gặp khó khăn, phần vì những rào cản hạn chế phát triển nền giáo của chế độ thực dân. Không thể theo học như ý muốn, tuy ở nhà chăm lo việc gia đình, Nguyễn Sắc Kim vẫn nung nấu ý chí muốn làm điều gì đó để góp phần cứu nước, cứu dân. Người đầu tiên đưa Nguyễn Sắc Kim đến với cách mạng chính là đồng chí Nguyễn Phùng, Bí thư Phủ ủy Tam Kỳ. Không bao lâu sau khi được giác ngộ, năm 1937, Nguyễn Sắc Kim được đứng vào hàng ngũ của Đảng[1] và nhiệm vụ của người đảng viên trẻ này trong thời gian này là góp phần tuyên truyền ảnh hưởng của Đảng và phát triển đảng viên mới.
Đồng chí cùng đồng chí Nguyễn Phùng thành lập Chi bộ ghép vùng Phú Qúy Đại, Thạnh Trung, Tịch Tây, gồm sáu đảng viên do đồng chí Nguyễn Phùng làm Bí thư; sau đó đồng chí Nguyễn Sắc Kim thay đồng chí Nguyễn Phùng[2]. Để mở rộng phạm vi hoạt động của Đảng, cuối năm 1937, đồng chí Nguyễn Sắc Kim thành lập Chi bộ Tịch Tây gồm bốn đảng viên do đồng chí Nguyễn Tiến Chế làm Bí thư.
Không chỉ chăm lo phát triển Đảng ở địa phương, đồng chí Nguyễn Sắc Kim còn đến các địa phương khác để tuyên truyền, gây ảnh hưởng cho Đảng. Khoảng tháng 3 năm 1938, Nguyễn Sắc Kim cùng đồng chí Nguyễn Phùng thành lập Chi bộ ghép vùng Thọ Khương - Vân Trai gồm 4 đảng viên do đồng chí Phan Khắc (Phan Thêm) làm Bí thư và cùng sinh hoạt với chi bộ này.
Ở Tam Kỳ, sau cuộc mitting kỷ niệm Cách mạng Tư sản Pháp ở chùa Quảng Phú (nay thuộc xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ) do Phủ ủy tổ chức nhằm thông qua đó để tuyên truyền gây ảnh hưởng cho Đảng, địch truy lùng cán bộ, đảng viên và cơ sở quần chúng. Trước tình hình trên, tháng 9 năm 1939, Phủ ủy Tam Kỳ triệu tập cuộc họp mở rộng tại trảng Bà Mù, nay thuộc xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành. Hội nghị bàn kế hoạch ổn định tư tưởng cho đảng viên và quần chúng, kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm cuộc mitting ở Quảng Phú và bàn kế hoạch đối phó với âm mưu đánh phá của địch, tiếp tục giữ vững và phát triển phong trào. Cũng tại hội nghị này, đồng chí Nguyễn Sắc Kim cùng các đồng chí Võ Toàn, Phan Khắc được bổ sung vào Phủ ủy.
Cũng từ tháng 9 năm 1939, tình hình thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến. Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Pháp, Chính phủ Mặt trận Bình dân bị đổ. Ở Đông Dương, bọn phản động thuộc địa thi hành hàng loạt chính sách phát xít, khủng bố Đảng Cộng sản, xoá bỏ các quyền lợi mà nhân dân ta đã giành được trong cao trào đấu tranh đòi dân sinh - dân chủ. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam bị vỡ nặng. Nhiều đồng chí Tỉnh ủy, Phủ uỷ, Huyện ủy bị bắt; riêng Phủ ủy Tam Kỳ chỉ còn các đồng chí Nguyễn Sắc Kim, Võ Toàn thoát được vòng vây của địch, tiếp tục hoạt động.
Chính trong thời điểm khó khăn này, tinh thần và ý chí cách mạng của người đảng viên Nguyễn Sắc Kim được thể hiện cao độ, góp phần giữ lửa và khôi phục phong trào cách mạng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Bất chấp sự truy lùng của địch, đồng chí Nguyễn Sắc Kim và đồng chí Võ Toàn liên hệ với đồng chí Đào Thăng (Đào Thuần Thăng), cùng nhau phân công đi bắt mối, nắm các cơ sở còn lại, bàn kế hoạch ổn định tư tưởng và củng cố tổ chức. Tháng 01 năm 1940, Nguyễn Sắc Kim cùng các đồng chí Phủ ủy viên chưa bị bắt tổ chức một cuộc Hội nghị tại cửa biển An Hòa để nghe truyền đạt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11 năm 1939) về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng; đồng thời trên cơ sở đó đề ra một số nhiệm vụ trước mắt của Đảng bộ. Hội nghị củng cố lại Phủ ủy gồm các đồng chí Võ Toàn, Nguyễn Sắc Kim, Đào Thăng, Khưu Thúc Cự và Nguyễn Thế Kỷ, do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư[3].
Về tổ chức quần chúng, để tăng cường công tác phụ vận, tháng 02 năm 1940, các đồng chí Võ Toàn, Nguyễn Sắc Kim đã thành lập Ban Vận động Phụ nữ phản đế phủ Tam Kỳ gồm ba đồng chí: Trần Thị Tú (Trần Thị Nguyên), Nguyễn Thị Hương (Phi) và Nguyễn Thị Lan (Bốn Phiên). Đây là tổ chức tiền thân của Hội Phụ nữ cứu quốc phủ Tam Kỳ sau này.
Trên cơ sở phong trào từng bước được khôi phục, đầu tháng 3 năm 1940, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được lập lại, gồm các đồng chí Võ Toàn, Nguyễn Sắc Kim, Khưu Thúc Cự, Huỳnh Cự, Võ Huyến do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư.
Tháng 10 năm 1940, Tỉnh ủy Quảng Nam bắt nối liên lạc với Xứ ủy Trung kỳ và tổ chức Hội nghị tại Chùa Hang, nay thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành. Hội nghị quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bàn biện pháp triển khai thực hiện Nghị quyết, củng cố phong trào. Hội nghị củng cố lại Tỉnh ủy gồm 5 người, do đồng chí Hồ Tỵ làm Bí thư; đồng chí Nguyễn Sắc Kim tiếp tục được cử vào Tỉnh ủy với bí danh Hạ.
Giữa lúc phong trào đang phát triển mạnh thì tháng 4 năm 1941, ở Quảng Nam, địch tiến hành đợt khủng bố mới. Trước khi xảy ra đợt khủng bố này, cơ quan ấn loát của Tỉnh ủy Quảng Nam đặt tại Xuân Quang bị lộ (nay thuộc xã Tam Giang, huyện Núi Thành), địch phát hiện được cơ quan Tỉnh ủy, nắm được danh sách Tỉnh ủy viên. Chúng giăng lưới bủa vây, lùng sục vùng Tam Kỳ nhất là Tịch Tây, An Tân, bắt đồng chí Nguyễn Tiến Chế - Bí thư chi bộ Tịch Tây, người có liên quan trong việc tổ chức Hội nghị Chùa Hang. Chúng truy nã ráo riết đồng chí Võ Toàn và đồng chí Nguyễn Sắc Kim. Tỉnh ủy Quảng Nam lại đứt liên lạc với Xứ ủy Trung kỳ. Đồng chí Võ Toàn và Nguyễn Sắc Kim được Phủ ủy Tam Kỳ bố trí lẩn tránh và hoạt động ở nhiều nơi (Hạ Thanh, Lộc Ngọc, Phú Vinh, An Lương, Đức Bố…). Hai đồng chí vừa tham gia củng cố, giữ vững phong trào Tam Kỳ, vừa tìm cách liên lạc củng cố lại cơ sở các phủ, huyện phía Bắc. Nhờ sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Sắc Kim và Võ Toàn, Phủ ủy Tam Kỳ liên lạc với các địa phương để nắm tình hình, vừa ổn định tư tưởng cho đảng viên và quần chúng, tiến hành củng cố, duy trì sinh hoạt của một số cơ sở còn lại, vừa chuẩn bị kế hoạch đối phó sự đánh phá của địch.
Cuối năm 1940, đầu năm 1941, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến quan trọng với nhiều cuộc khởi nghĩa do các Đảng bộ địa phương lãnh đạo liên tiếp nổ ra; tháng 5 năm 1941, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Tháng 10 năm 1941, Tỉnh ủy Quảng Nam bắt được liên lạc với Trung ương; Xứ ủy Trung kỳ cũng được lập lại. Theo sự chỉ đạo của Xứ ủy, Tỉnh ủy Quảng Nam được củng cố, gồm 3 người, do đồng chí Trương Hoàn làm Bí thư, trong đó có đồng chí Nguyễn Sắc Kim.
Giữa lúc phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nam theo chương trình Mặt trận Việt Minh phát triển sôi nổi, thì địch tiến hành đợt khủng bố lớn, kéo dài từ tháng 02 đến tháng 8 năm 1942. Nhiều cơ sở đảng bị vỡ, nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam cầm. Sau đợt khủng bố này, Tỉnh ủy Quảng Nam chỉ còn lại đồng chí Võ Toàn và đồng chí Nguyễn Sắc Kim. Bị địch phát hiện, truy nã gắt gao, lại mất liên lạc với cấp trên, hai đồng chí phải tạm chuyển vào hoạt động ở các tỉnh Nam Trung Bộ. Đến đâu, hai đồng chí cũng được đồng bào nuôi giấu, che chở và không ngừng tuyên truyền, gây ảnh hưởng cho Đảng.
Nhận thấy tình hình tạm ổn, tháng 6 năm 1942, hai đồng chí trở về địa phương, dựa vào cơ sở còn lại của các xã phía nam Tam Kỳ để hoạt động và bắt liên lạc với các phủ, huyện cánh Bắc. Tỉnh ủy Quảng Nam và Thành ủy Hội An tổ chức Hội nghị liên tịch và quyết định thành lập Ban Chấp hành Liên Thành, Tỉnh ủy Quảng Nam - Hội An - Đà Nẵng do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư và đồng chí Nguyễn Sắc Kim tiếp tục được cử vào Tỉnh ủy[4].
Nhờ sự chỉ đạo của Liên Thành, Tỉnh ủy, trong đó có vai trò quan trọng của đồng chí Nguyễn Sắc Kim, phong trào cách mạng ở Quảng Nam dần dần phục hồi; một số cơ sở đảng và tổ chức quần chúng lần lượt được củng cố và phát triển thêm đảng viên, hội, đoàn viên. Lúc này cơ sở cách mạng ở Diêm Trường, Vĩnh Đại, Vân Trai, Tịch Tây là nơi trụ bám của các đồng chí Tỉnh ủy Quảng Nam. Đây cũng là nơi đặt cơ quan ấn loát tài liệu và cũng là đầu mối liên lạc với các phủ, huyện trong tỉnh, nơi đón tiếp các đồng chí vượt các nhà lao trở về hoạt động.
Sau khi cơ sở Tam Kỳ được xây dựng lại tương đối vững và cơ sở ở một số phủ, huyện phía Bắc được móc nối lại, tháng 10 năm 1942, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được củng cố do đồng chí Võ Toàn làm Bí thư; đồng chí Ngyễn Sắc Kim được cử làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Tháng 4 năm 1943, ở Quảng Nam, lại xảy ra vụ khủng bố lớn, bắt đầu từ Duy Xuyên, tuy nhiên ở Tiên Phước lúc này tình hình mới manh nha, địch chưa chú ý nhiều, do đó Tỉnh ủy chuyển cơ quan lên đây. Nhưng cũng chỉ được một thời gian, cơ quan Tỉnh ủy bị địch phát hiện và đánh phá; đồng chí Võ Toàn và Nguyễn Sắc Kim tiếp tục bị địch tầm nã, truy lùng ráo riết hơn, phải quay về dựa vào các xã cánh nam phủ Tam Kỳ để hoạt động và tiếp tục liên lạc với đồng chí Nguyễn Văn Ưng ở Hội An.
Trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Sắc Kim cùng đồng chí Võ Toàn tập trung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng và quần chúng cách mạng, tổ chức tuyên truyền phát động phong trào cứu quốc theo chủ trương của Mặt trận Việt Minh. Nhiều cuộc mitting được tổ chức liên tục. Đáng chú ý là cuộc mitting có trên 300 người dự, do đồng chí Võ Toàn và Nguyễn Sắc Kim diễn thuyết tại Cồn Giống trên ngã ba sông Tam Kỳ - Chợ Trạm, đã có tác dụng tích cực đến tư tưởng của quần chúng.
Giữa lúc phong trào địa phương vừa được phục hồi, bước đầu vươn lên, cuối năm 1943, lại xảy ra vụ đánh phá mới của địch. Do sự phản bội của Cao Tiến Khai, đồng chí Nguyễn Sắc Kim cùng các đồng chí Võ Toàn, Lê Bá lần lượt rơi vào tay giặc. Đồng chí Nguyễn sắc Kim và Lê Bá bị bắt ở Nam Ô, sau đồng chí Võ Toàn một ngày.
Tại Tòa mật thám Hội An, đồng chí Nguyễn Sắc Kim và các đồng chí Võ Toàn, Lê Bá không nhận sự khai báo của Cao Tiến Khai. Bọn mật thám cho các đồng chí là “cộng sản gốc”, “cứng đầu”, chỉ có dùng tra tấn cực hình mới được. Một chuỗi ngày bị tra tấn dã man với những đòn tra tấn với hình thức đánh, đạp, treo lơ lửng trên trần nhà, tra điện, đổ nước vôi vào miệng... Mỗi ngày chúng đều đổi đòn tra tấn, tra rồi hỏi, không khai lại tiếp tục tra, liên tục trong hai tháng liền, các đồng chí chết đi sống lại. Nhưng cuối cùng các đồng chí Nguyễn Sắc Kim, Võ Toàn, Lê Bá đã vượt qua tất cả và đã chiến thắng mọi mưu mô của kẻ thù. Chúng kết án đồng chí Nguyễn Sắc Kim 25 năm tù giam; khi đưa đi đày lên Buôn Ma Thuột, giảm còn 20 năm.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), đồng chí Nguyễn Sắc Kim được ra tù và cùng các đồng chí Nguyễn Nhơn, Nguyễn Chúc, Thái Hựu và Nguyễn Tương được tổ chức Đảng trong nhà lao phân công về tham gia chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bình Thuận.
Vừa về đến Bình Thuận, các đồng chí bắt tay ngay vào việc nắm tình hình và triển khai các biện pháp để khôi phục phong trào cách mạng trên địa bàn toàn tỉnh. Đồng chí Nguyễn Sắc Kim phụ trách chung. Tháng 6 năm 1945, các đồng chí từ nhà đày Buôn Ma Thuột về Bình Thuận trước đã nhóm họp và quyết định thành lập Ban Vận động Việt Minh lâm thời tỉnh Bình Thuận; đồng chí Nguyễn Sắc Kim được cử phụ trách chung; đồng thời chịu trách nhiệm liên lạc với các đồng chí ở tỉnh Ninh Thuận để phối hợp hành động và qua đó bắt nối liên lạc với cấp trên. Về mặt Đảng, các đồng chí đảng viên tập hợp lại dưới danh nghĩa Việt Minh, do đồng chí Nguyễn Sắc Kim phụ trách chung [5]
Trên cương vị mới, đồng chí đã tích cực khôi phục lại phong trào, đồng thời trong lúc chưa liên lạc với Trung ương đã chủ động phối hợp với các tỉnh Ninh Thuận và Lâm Viên để hành động và thành lập Ban Liên lạc ba tỉnh. Ngày 25 tháng 8 năm 1945, chính quyền tỉnh Bình Thuận thuộc về tay nhân dân.
Khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, tháng 9 năm 1945, Mặt trận Việt Minh tỉnh Bình Thuận chính thức được thành lập; đồng chí Nguyễn Sắc Kim được cử vào Ban Chấp hành Việt Minh tỉnh.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, sau đó đánh chiếm Nam Bộ và tiến ra cực Nam Trung Bộ. Tỉnh Bình Thuận là nơi lực lượng kháng chiến ở các tỉnh miền Đông rút ra để củng cổ, đồng thời các đơn vị Nam tiến từ các tỉnh phía Bắc tiếp tục vào, do đó tỉnh Bình Thuận có nhiều phiên hiệu lực lượng vũ trang khác nhau. Để đối phó với quân Pháp, củng cố lại lực lượng của ta, ngày 10 tháng 11 năm 1945, Hội nghị Bình An được tổ chức, quyết định chuyển quân Giải phóng thành vệ quốc đoàn, thành lập Chi đội 1, Chi đội 2 và Chi đội 3. Đây là Hội nghị rất quan trọng để thống nhất tổ chức, chỉ huy lãnh đạo, bố trí lực lượng tiếp tục chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược ở 4 tỉnh Cực Nam Trung Bộ.
Với quá trình công tác đầy kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng, đồng chí Nguyễn Sắc Kim được cử làm Chính trị viên Chi đội 1; Chi đội này phụ trách tỉnh Bình Thuận và cả tỉnh Đồng Nai Thượng. Tháng 01 năm 1946, quân Pháp tiến công tái chiếm các tỉnh cực Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên. Chi đội 1 đã lập nhiều chiến công, góp phần kìm hãm bước tiến quân của địch.
Thực hiện Sắc lệnh số 71/SL của Chính phủ, ngày 25 tháng 6 năm 1946, Chi đội 1 giải phóng quân Bình Thuận giải thể và thành lập Trung đoàn 82; đồng chí Nguyễn Sắc Kim được cử làm Chính trị viên[6].
Cuộc kháng chiến chống Pháp ngày càng phát triển, tuy nhiên lúc này ở 4 tỉnh cực Nam Trung Bộ gồm Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng chưa có sự chỉ đạo thống nhất với yêu cầu nhiệm vụ của một chiến trường vùng sâu, vùng tạm chiếm. Để củng cố một bước lực lượng vũ trang 4 tỉnh cực Nam Trung Bộ, nhất là thống nhất chỉ đạo và chi huy quân sự, theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Liên khu 5, tháng 12 năm 1948, Trung đoàn 81 và Trung đoàn 82 được sáp nhập thành Liên Trung đoàn 81 - 82, chịu trách nhiệm về quân sự trên toàn chiến trường Cực Nam Trung Bộ; Ban Chỉ huy Liên Trung đoàn có 4 đồng chí, Ngưyễn Sắc Kim được cử làm Ủy viên Chính trị.
Để đẩy mạnh tác chiến tập trung, tháng 6 năm 1950, Trung đoàn chủ lực thứ 2 của Liên khu 5- Trung đoàn 803 được thành lập. Đồng chí Nguyễn Sắc Kim thôi làm Ủy viên chính trị Liên Trung đoàn 81 + 82, về Liên khu làm Chính ủy Trung đoàn 803. Tháng 12 năm 1950, sau khi thăm hỏi và làm việc với Tiểu đoàn 365 ở Đá Bàn, đồng chí Nguyễn Sắc Kim cùng một số đồng chí cán bộ Tỉnh ủy, được Tỉnh ủy Khánh Hoà tổ chức vượt qua vòng vây của địch ở phía Bắc Ninh Hoà để tiến về chiến khu Hòn Hẻo để dự Hội nghị Tỉnh uỷ. Mặc dù cuộc hành quân được tổ chức chu đáo nhưng một loạt đại liên địch bất ngờ từ tháp canh bắn ra, không may lại trúng đồng chí Nguyễn Sắc Kim, đồng chí được tập trung cứu chữa nhưng vì vết thương quá nặng, đã hy sinh tại chiến khu Hòn Hẻo.
Đồng chí Nguyễn Sắc Kim bước vào con đường cách mạng từ một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước và cách mạng; đồng chí trải qua nhiều năm tháng hoạt động đầy gian khổ, hiểm nguy, có mặt đúng lúc khi lịch sử yêu cầu, góp phần giữ vững phong trào cách mạng của tỉnh Quảng Nam những năm 1940 - 1943, tổ chức lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền ở Bình Thuận trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, tham gia chỉ đạo lực lượng vũ trang các tỉnh cực Nam Trung Bộ ngay từ những ngày đầu thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta vào cuối năm 1945. Nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành, khó khăn nào đồng chí cũng vượt qua; bình tĩnh, luôn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng; trọn tình, trọn nghĩa với anh em, đồng chí.
Với những cống hiến trên, đồng chí Nguyễn Sắc Kim được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhì.
[1] Có ý kiến cho rằng đồng chí Nguyễn Sắc Kim vào Đảng năm 1936. [2] Đến đầu năm 1938, Chi bộ này không còn hoạt động vì phần đông các đồng chí chuyển sinh hoạt đi nơi khác. [3] Theo: Lịch sử Đảng bộ huyện Tam Kỳ (1930 -1954), xuất bản 01/2007, tr.94 – 96. [4] Trước đó, Thành ủy Hội An và Đảng bộ Đà Nẵng do Xứ ủy tổ chức và chỉ đạo. [5] Theo: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Thuận, Tập I (1930-1954), xuất bản 02/1994, tr.81. [6] Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 71/SL, quy định đổi tên Vệ quốc đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Các Chi đội tổ chức thành trung đoàn, giải thể các chiến khu, thành lập các đại đoàn.



