Bài viết

Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính và các đồng sự trong Khởi nghĩa Yên Bái

Cuộc Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra cách đây đã 95 năm (1930-2025), do Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo. Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức theo xu hướng cách mạng dân chủ tư sản, được thành lập ngày 25-12-1927, do Nguyễn Thái Học đứng đầu (Chủ tịch), bên cạnh là các đồng sự Nguyễn Thế Nghiệp (Phó chủ tịch), Phó Đức Chính (Tổ chức), Nguyễn Khắc Nhu[1]… Tổng bộ lâm thời tất cả gồm 15 người[2].

Quảng Ngãi04/06/2026Vũ Đinh Khánh (Đoàn TNCS Xã Bờ Y)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khởi nghĩa Yên Bái bắt đầu nổ ra vào đêm 9, rạng sáng ngày 10-2-1930, ngoài Yên Bái còn có các địa phương khác, tuy nhiên cuộc khởi nghĩa diễn ra ở Yên Bái là lớn hơn cả. Nghĩa quân chiếm các đồn Pháp ở Yên Bái. Một bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp phản chiến tham gia vào cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân chiếm được nhà dây thép (bưu điện), nhà ga, phát truyền đơn, hô hào quần chúng và binh lính hưởng ứng. Ngay sáng hôm sau, thực dân Pháp đã phản công, cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Trong vòng một tuần, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt ở các nơi. Trong lúc Việt Nam Quốc dân đảng chuẩn bị khởi nghĩa, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm (Thái Lan). Nghe tin đó, Người đã nhận xét: “Cuộc bạo động nổ ra lúc này là quá sớm, và khó thành công[3]. Người muốn gặp các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng để bàn lại kế hoạch[4] hòng hoãn một cuộc khởi nghĩa “non” nhưng không thực hiện được.

1. Bối cảnh dẫn tới cuộc Khởi nghĩa Yên Bái

Sau vụ ám sát trùm mộ phu Ba-danh, “bọn thực dân Pháp cũng khôn ngoan hơn. Mắc bệnh, chúng càng làm cho bệnh trầm trọng, càng khủng bố dân…”[5]. Theo tập tài liệu của Sở mật thám Đông Dương do trùm mật thám Louis Marty điều khiển, về Việt Nam Quốc dân đảng, có tên là Contribution à l’histoire des mouvements politiques de l’Indochine française thì Việt Nam Quốc dân đảng là một tổ chức “ăn rập theo khuôn của Trung Hoa Quốc dân đảng do Tôn Dật Tiên sáng lập”[6]

Kể từ khi ra đời năm 1927 đến trước cuộc Khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, Việt Nam Quốc dân đảng là một trong các đảng hoạt động sôi nổi, trong những năm cuối của thập niên 20 (của thế kỷ XX): “Trong ba đảng đồng thời hoạt động là Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, Tân Việt cách mạng đảng và Việt Nam Quốc dân đảng,… hai đảng trên là tiền bối của Đảng Cộng sản Đông Dương. Còn đảng dưới là chính đảng của giai cấp tư sản với một màu sắc quốc gia rõ rệt[7].

Theo bản chương trình hành động đã được duyệt y trong Hội nghị đầu tiên thành lập Việt Nam Quốc dân đảng vào ngày 25-12-1927, thì trước khi nổ ra cuộc khởi nghĩa giành chính quyền phải kinh qua ba thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất, tức thời kỳ phôi thai, đảng chú ý vào việc tổ chức các chi bộ, xây dựng cơ sở của đảng. Thời kỳ thứ hai tức thời kỳ dự bị, đảng chú ý vào tổ chức các hội quần chúng xung quanh đảng, mở những cơ quan tuyên truyền bán công khai và phái người đi du học nước ngoài về quân sự và cơ khí để đợi ngày về nước làm việc. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ công khai, tức thời kỳ khởi nghĩa, đảng tổ chức những đoàn quân cảm tử hợp với những binh lính đảng viên trong đội ngũ quân đội Pháp nổi lên đánh địch, “Khôi phục giang sơn” và giải phóng dân tộc[8]. Tuy nhiên, đến đầu năm 1929, Việt Nam Quốc dân đảng chưa vượt qua thời kỳ thứ nhất; vậy thì nguyên nhân nào khiến Việt Nam Quốc dân đảng đã đốt cháy giai đoạn để tiến hành công cuộc bạo động?

Việt Nam Quốc dân đảngra đời trên cơ sở là Nhà xuất bản Nam Đồng thư xã. Nam Đồng thư xã ra đời tại Hà Nội vào năm 1925, là một nhà xuất bản chuyên in ấn các sách vở có nội dung yêu nước. Những người sáng lập Nam Đồng thư xã là Phạm Tuấn Tài (Mộng Tiên) cùng anh ruột là Phạm Tuấn Lâm (Dật Công)[9] và Hoàng Phạm Trân (Nhượng Tống). Các ông vốn đã quen biết nhau trong các hoạt động chính trị lúc đó ở Hà Nội. Về mặt lý tưởng các ông đều bàn bạc thống nhất không chấp nhận cách mạng hòa bình mà khẳng định cách mạng bạo lực tiến lên theo con đường của học thuyết Tôn Trung Sơn. Như vậy, có thể thấy Việt Nam Quốc dân đảng được tổ chức bởi những người “trí thức và giai cấp tiểu tư sản[10

Ngoài ra, Nam Đồng thư xã còn quy tụ được thêm nhiều thanh niên hăng hái khác nữa như “Phó Đức Chính, Lê Văn Phúc, Lê Thành Vị, Nguyễn Thái Trác, Vũ Huy Châu, Nguyễn Hữu Đạt, Vũ Hiển, Phan Ngọc Trúc, Nguyễn Văn Lô, Trần Vĩ, Lưu Văn Phùng”[11]. Sách của Nam Đồng thư xã có xu hướng (chính trị và thương mại) rõ rệt nên bị cấm và vì thế mang đến hậu quả làm sụp đổ cơ sở Nam Đồng thư xã[12].

Tại Hội nghị thành lập Việt Nam Quốc dân đảng tại làng Thể Giao vì có động nên nửa chừng giải tán và quay về họp lại tại Nam Đồng thư xã. Mục đích và tổ chức của Việt Nam Quốc dân đảng đều được ghi trong điều lệ và được phỏng theo thể chế của Trung Hoa Quốc dân đảng. Tài liệu của Sở mật thám Đông Dươngviết “Nguyễn Thái Học và đồ đảng bắt chước nguyên văn những lời nói của Tôn Dật Tiên trong Bảng luật của Cộng hòa Trung Hoa… hy vọng vào thế lực hữu hiệu của Trung Hoa giúp đỡ họ đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương bằng vũ lực[13].

Khi mới thành lập Việt Nam Quốc dân đảng chưa đề ra được một đường lối chính trị nào rõ ràng. Mà bản Điều lệ được thảo ra trong ngày thành lập phỏng theo chương trình chỉ ghi chung chung là: “Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giới cách mạng[14]. Trong bản Điều lệ năm 1928, đảng mới nêu chủ nghĩa của đảng là: Xã hội dân chủ. Đến năm 1929, Việt Nam Quốc dân đảng không chủ trương xã hội dân chủ nữa mà thay bằng các khẩu hiệu của Cách mạng tư sản Pháp là Tự do - Bình đẳng - Bác ái với mục tiêu là thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ tư sản.

Chương trình của đảng chia thành bốn thời kì. Thời kì cuối cùng là bất hợp tác với chính phủ Pháp và triều đình nhà Nguyễn; cổ động bãi công, đánh đuổi giặc Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết lập dân quyền.

Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng được tổ chức theo 4 cấp là: Tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ; nhưng chưa bao giờ trở thành hệ thống trong cả nước. Tổng bộ trên thực tế là do kỳ bộ Bắc Kỳ kiêm nhiệm. Tổ chức cơ sở của Quốc dân đảng trong quần chúng rất ít. Địa bàn hoạt động của Quốc dân đảng chỉ bó hẹp trong một số địa phương ở Bắc Kỳ, còn ở Trung Kỳ và Nam Kỳ không đáng kể. “Tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ đảng đã nhanh chóng nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong số các công chức trẻ, giáo viên, sinh viên, binh lính và phụ nữ. Đầu năm 1929, đảng tổ chức được 120 chi bộ hoạt động ở Bắc Kỳ, quy tụ được 1.500 đảng viên, 120 người trong số này là binh lính[15]. Ngoài ra, Việt Nam Quốc dân đảng còn kêu gọi được sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, tư sản, mạnh thường quân, “người ta kêu gọi đến vị mạnh thường quân Đặng Đình Điển được nhận vào đảng, mặc dầu tuổi đã cao, nhưng vì ảnh hưởng, ông đã có trong vùng Nam Định và nhất là gia tài kếch sù của ông. Từ tháng 10-1928, nhờ phần bảo chứng của ông, đảng có thể đặt tại Hà Nội Việt Nam Khách sạn…”[16]. Quốc dân đảng chủ trương tiến hành cách mạng bằng bạo lực, chú trọng lấy lực lượng binh lính người Việt trong quân đội Pháp giác ngộ làm lực lương chủ lực.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn