Nguyễn Thị Bảy là đóa hoa thép rực lửa trong những năm tháng kháng chiến
Nguyễn Thị Bảy là đóa hoa thép rực lửa trong những năm tháng kháng chiến của nhân dân Cần Giuộc, một nữ chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất. Với sự mưu trí và lòng dũng cảm vô song, bà đã lãnh đạo quân dân địa phương lập nên những chiến công hiển hách trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, khiến kẻ thù phải khiếp sợ và kính cẩn gọi bà bằng danh xưng “Hoàng hậu đỏ”.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Thị Bảy tên thật là Nguyễn Thị Lục, sinh năm 1908 ở làng Vĩnh Hựu, tổng Hòa Đồng Trung, quận Gò Công (nay là huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang).
Ông cụ thân sinh bà là lương y Nguyễn Khắc Kỷ, mẹ là Nguyễn Thị Quý, sinh hạ được 9 người con gồm 5 trai, 4 gái.
Gia đình đông con, lại nghèo khó, 10 tuổi mẹ mất, bà Bảy đã phải sống cơ cực, lớn lên phải vào rừng đốn củi, rồi theo ở mướn cho nhà của cậu Chín, con một Hương sư ở làng Phước Lại. Tại đây, khoảng năm 19 tuổi, được anh Tuấn Nẫy (tức Nguyễn Văn Ớt) dìu dắt, giác ngộ lòng yêu nước; bà quyết đi theo cách mạng và sớm gia nhập Đảng Cộng sản. Năm 25 tuổi, bà Nguyễn Thị Bảy được chỉ định vào Quận ủy Cần Giuộc. Năm 1936, bà là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Chợ Lớn và là Bí thư Quận ủy Cần Giuộc, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ dân chủ tỉnh Chợ Lớn.
Trong khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11/1940, bà là người chỉ huy cuộc nổi dậy ở quận Cần Giuộc, được đồng bào rất tín nhiệm. Chồng bà, đồng chí Nguyễn Văn Ớt là quận ủy viên, thành viên Ban Chỉ đạo khởi nghĩa của quận Cần Giuộc. Cả hai đều đi vận động nông dân đấu tranh đòi tăng tiền công cấy, công gặt, giảm lúa ruộng, bớt lúa lời. Nông Hội, Hội tương tế mọc lên từ Phước Lại lan ra các xã gần bên là Long Đức Đông, Long Hậu Tây, 3 xã này sớm nổi tiếng là “Khu vực đỏ”.
Do công tác giỏi nên bà Nguyễn Thị Bảy được vào Quận ủy Cần Giuộc rồi vào Tỉnh ủy Chợ Lớn. Khi chuẩn bị khởi nghĩa thì Bà được phân công chỉ đạo các lực lượng cách mạng ở “Khu vực đỏ” Cần Giuộc. Thời giờ ước hẹn khởi nghĩa bắt đầu là nửa đêm ngày 23/11/1940, khi đèn điện Sài Gòn – Chợ Lớn tắt. Các lực lượng khởi nghĩa đã sẵn sàng, tuy súng ít nhưng bên ta có đông đảo nhân dân và tinh thần cao của các chiến sĩ vũ trang với dao mác, tầm vông sẵn sàng xông lên. Đèn Sài Gòn – Chợ Lớn vẫn cháy, quân ta ở vùng Phú Lạc, Phong Đước gần thành phố chờ mãi mà không nghe thấy hiệu lệnh nên rút êm. Còn ở khu vực do bà Nguyễn Thị Bảy phụ trách thì anh chị em ta cứ xông vào chiếm đồn lấy súng, phá tề, lập chính quyền cách mạng. Từ ngày 23 đến ngày 26, ta làm chủ tình hình.
Đến ngày 27 thì Pháp đưa lính lê dương xuống đàn áp, đốt nhà, bắt người, giết dân. Du kích do bà Nguyễn Thị Bảy chỉ huy đánh địch suốt 15 ngày. Nhưng không bắt được liên lạc với cấp trên nên rút về Rừng Sác để bảo tồn lực lượng. Rút đi, nhưng lực lượng du kích vẫn chia nhau đánh công sở, phá tề, phục kích địch ruồng bố, giải tán các đám cướp, duy trì và củng cố cơ sở cách mạng của xã, ấp.
Ngày 26/12/1940, vào lúc 15 giờ, Bà Nguyễn Thị Bảy gặp địch phục kích trên đường đi công tác về gần bến đò Rạch Dừa và bị bắt trong lúc tay đang cầm vũ khí. Mặc dù bị địch tra tấn rất dã man, Bà Nguyễn Thị Bảy đã lấy máu mình bôi vào bọn lính và nói:
“Tôi muốn bôi máu tôi lên áo các người để các người thấy tôi cũng như các người, cũng là dân đen, máu đỏ, da vàng như nhau, là người Việt Nam như nhau”.
Bà Nguyễn Thị Bảy bị tòa án quân sự xử tử hình. Pháp đem Bà về xử bắn tại sân bóng Cần Giuộc.
Sáng ngày 5/4/1941, đồng bào chợ Cần Giuộc xôn xao, kẻ sợ, người xót xa, không mua bán gì được vì hôm đó có tin xử tử Bà Nguyễn Thị Bảy và 4 đồng đội. Đồng bào đi xem rất đông, lính mã tà giữ trật tự. Bốn xe đến, xe đầu chở Cò Tây, xe kế chở lính, một số là lính lê dương, xe thứ ba chở 5 người bị xử tử và xe thứ tư chở 5 cái hòm. Ông chủ quận Phan Văn Chương chứng kiến cuộc xử tử. Bà Nguyễn Thị Bảy, mặc bộ đồ lĩnh đen, đội khăn bông trắng, bình tĩnh xuống xe, hai tên sen đầm đưa Bà đến cột bắn. Hai mươi lăm tên lính, một hàng quỳ, một hàng đứng, sẵn sàng bóp cò. Linh mục đến xin rửa tội, Bà Nguyễn Thị Bảy lắc đầu không nhận. Hỏi có nhắn gì gia đình không? Bà chỉ nói với đồng bào Cần Giuộc:
“Đồng bào hãy tiếp tục đấu tranh đánh đế quốc Pháp giành lại độc lập dân tộc. Kỳ này khởi nghĩa thất bại, kỳ sau nhất định thành công”.
Địch bịt mắt, Bà không cho bịt, nói là để ngó thẳng vào nòng súng của quân thù, không một chút sợ sệt. Tây tà, bọn hội tề gọi là bà “Hoàng hậu đỏ”. Nhân dân Cần Giuộc, Phước Lại gọi bà là “Bà cố Hỷ”, linh thiêng, tài giỏi, vì lúc còn sống, bất cứ nhiệm vụ khó khăn nào Bà cũng thực hiện được.
Khởi nghĩa Nam kỳ nói chung và khởi nghĩa Nam Kỳ ở Cần Giuộc do Bà Nguyễn Thị Bảy lãnh đạo tuy không đạt được thắng lợi như mong muốn nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ là một tấm gương sáng chói về tinh thần kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam. Qua trận thử lửa này, quần chúng càng gắn bó với Đảng, càng tôi luyện chí khí cách mạng, củng cố nhận thức: Con đường sống duy nhất của dân tộc là phải dùng bạo lực cách mạng đập tan bạo lực phản cách mạng của bọn đế quốc và phong kiến, giành lại độc lập tự do. Cũng từ cuộc khởi nghĩa này, hàng trăm cán bộ phụ nữ qua đấu tranh rèn luyện đã được cử vào các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền tỉnh, huyện, xã và từng bước khẳng định vai trò của phụ nữ trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.



