NGUYỄN THỊ BÌNH - SỨ GIẢ HÒA BÌNH TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN PARIS
Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh ngày 26/5/1927, tại tỉnh Sa Đéc, nay là tỉnh Đồng Tháp. Nguyên quán thân phụ bà, ông Nguyễn Đồng Hợi lại ở Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông nội bà là Nghĩa binh trong phong trào Cần Vương. Ông ngoại là nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng Phan Chu Trinh.
Lúc nhỏ, bà Nguyễn Thị Bình theo học tại Trường Lyce’e Sisowath (tại Phnôm Pênh Campuchia). Bà học rất khá, nhất là môn Toán. Nhưng thân mẫu bà mất sớm, khi bà mới 16 tuổi, là chị cả của đàn em 5 đứa, cả trai lẫn gái. Có lẽ chính hoàn cảnh ấy đã tạo cho bà ngay từ nhỏ tính cách nổi bật, quán xuyến, đi suốt cuộc đời bà và giúp bà thành công.
Năm 1945, vừa học hết Tú tài phần một, bà bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước, như: cứu tế nạn đói, tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn, chuyển vũ khí ra chiến khu… Cha ra chiến khu trong kháng chiến, bà ở lại thành phố, vừa chăm lo cho các em, vừa hoạt động xã hội, tham gia các phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên, phụ nữ, vận động trí thức Sài Gòn – Chợ Lớn ủng hộ cách mạng. Tâm sự về bước ngoặt đưa mình đến con đường hoạt động chính trị, bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “ Mẹ tôi mất sớm, ba tôi nói rằng: Con cố gắng học vì bản thân con có tới 5 em cần con giúp đỡ. Nếu con học tốt, con có vị trí trong xã hội, nếu ba đi rồi con có thể lo được cho các em”. Ngày đó, tôi có ước mơ làm bác sĩ vì tôi thấy mẹ tôi ốm, mời bác sĩ khó khăn lắm, lúc mời được, lúc không. Tôi nghĩ người ốm cần phải có bác sĩ tốt. Cho nên, tôi dự định học trở thành bác sĩ. Đến năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra thì tất cả đi theo cách mạng, đi theo kháng chiến. Cũng vì nhờ trình độ về văn hóa nhất định (hết tú tài) nên đi vào kháng chiến tôi có ý thức học những điều mình chưa biết như về cách mạng, về duy vật biện chứng... nhờ vậy trình độ chính trị được nâng cao. Năm 20 tuổi tôi đã là Bí thư Đảng Đoàn Phụ nữ cứu quốc của TP Sài Gòn – Chợ Lớn. Lúc đó, phong trào Phụ nữ cứu quốc hoạt động rất mạnh nhưng trong bí mật, sau đó tôi làm Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ”.
Năm 1948, bà Nguyễn Thị Bình được kết nạp vào Đảng. Năm 1951, bà bị địch bắt, chúng giam bà tại khám Chí Hòa. Năm 1954, vừa được ra tù, bà tham gia phong trào đòi thi hành Hiệp định Giơ ne vơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương. Cuối năm 1955, bà được tổ chức điều ra miền Bắc.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Là người có trình độ tiếng Pháp tốt, đã tham gia các hoạt động yêu nước, có kinh nghiệm vận động, tuyên truyền nhân dân, truyền thống gia đình yêu nước, bà Nguyễn Thị Bình đã được Đảng cử tham gia Ủy viên Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hoạt động đối ngoại.
Sau thắng lợi của quân và dân ta trong Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Sài Gòn đồng ý ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hóa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris. Giữa năm 1968, bà được tổ chức cử tham gia trận địa mới “vừa đánh vừa đàm”. Đây là trách nhiệm hết sức nặng nề. Theo ý kiến của đồng chí Xuân Thủy, được Bác Hồ đồng ý, bà Nguyễn Thị Bình được chọn làm Trưởng đoàn trù bị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đi dự Hội nghị bốn bên tại Paris và sau đó làm Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhiều năm sau, nhớ lại bước ngoặt công tác này, bà Nguyễn Thị Bình cho biết: “Vì tôi vừa có trình độ văn hóa nhất định và biết tiếng Pháp, tiếng Anh lúc đó còn bập bẹ. Nhờ tiếng Pháp đó mà tôi rất thuận lợi trong công việc. Lúc bấy giờ, cách mạng cần một người có bản lĩnh chính trị, có trình độ văn hóa, ngoại ngữ để làm đối ngoại và tôi đã được lựa chọn đi làm trưởng đoàn đàm phán của Hội nghị Paris. Không lâu sau, tôi làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, khi ấy còn trẻ mới 41 tuổi, nhưng lúc đó do yêu cầu công việc. Tuy còn trẻ nhưng tôi tự tin mình có thể làm được. Thực tế, ngay bản thân tôi luôn có ý thức học tập và đặt nhiệm vụ: hôm nay phải làm tốt hơn ngày hôm qua”. Bà cũng nhận định “Trong cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữa một dân tộc nhỏ chống một đế quốc lớn mà dẫn đầu phái đoàn đàm phán là một nữ đại biểu thì vừa gây sự chú ý, vừa tranh thủ được thiện cảm của dư luận thế giới, tạo thêm thuận lợi cho hoạt động đối ngoại”. Việc được cử làm Trưởng đoàn, bà viết “Tôi bước vào nghề ngoại giao bằng hoạt động thực tiễn do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, chứ không có điều kiện được học tập tại các trường lớp quan hệ quốc tế nào. Nhưng tôi có may mắn được gặp anh Xuân Thủy mà tôi coi như một người thầy trong lĩnh vực hoạt động đối ngoại của mình. Tôi nhớ mãi lời anh nhắc nhở như một chân lý: “Làm ngoại giao không cần đao to búa lớn, mà cần sự thuyết phục bằng lý lẽ, bằng tình cảm và bằng thực tế”.
Trong Nhật ký của đồng chí Xuân Thủy viết về ngày đầu tiên bà Nguyễn Thị Bình tới Paris: “Ngày 4/11/1968. Đoàn chị Nguyễn Thị Bình đến Paris. 11 giờ 30, máy bay dân dụng Liên Xô đưa đoàn chị Nguyễn Thị B ình đến sân bay Bourget. Đoàn gồm 6 người (2 nữ, 4 nam). Chị Nguyễn Thị Bình nhanh nhẹn, tươi cười từ máy bay bước xuống…Khi ra xe, người bao vây đông đặc làm cho chị Bình không thể nào bắt tay chào những người ra đón. Hôm nay, có các vị đại sứ Liên Xô, Ba Lan, Bungari, Hung ga ri, Tiệp khắc, CHDC Đức, Rumani, An giê ri; đại diện thương mại Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Ủy viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Pháp; đại diện các tổ chức như Hội hữu nghị Pháp – Việt, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ, Hòa bình Pháp… Ngay sau đó, ta thu lượm dư luận trong giới báo chí và người Pháp cảm tình với ta. Theo nữ nhà báo Madeleine Riffaud, thiên hạ nhận xét: Việt cộng đã thắng lợi lớn qua sự đón tiếp bà Bình ở Paris. Bà Bình như bà hoàng, được đón như quốc trưởng, đủ nghi thức chính qui. Bà Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris. Rất tuyệt! Thật hiếm có”.
Và thế là, suốt hơn 4 năm ròng rã, từ năm 1968 đến 1973, cứ vào thứ Năm hàng tuần, người dân Paris, bà con Việt kiều ở Paris lại chứng kiến “Madam Bình” (cách họ quen dùng để gọi bà) với phong thái lịch lãm, sang trọng, trong bộ áo dài truyền thống Việt Nam, bên ngoài khoác áo vét, có khi là áo có cổ lông sẫm màu, tới Nhà Hội nghị Quốc tế ở phố Klêbe để bà tổ chức họp báo, trả lời phỏng vấn. Trong thời gian này, bà tham dự các hội nghị quốc tế với tư cách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đi các nước châu Á, châu Âu, châu Phi,… tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các nước cho sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và chuẩn bị thông tin, các đòn tấn công ngoại giao sắc bén cho những cuộc đàm phán mới. Những năm tháng đàm phán, hình ảnh “Madam Bình” thật sự gây ấn tượng khi xuất hiện trên các trang báo phương Tây, bởi những lời phát biểu đầy thuyết phục, thông minh, lúc cứng rắn, khi dí dỏm ví von, làm thế giới nể trọng, nhân dân ta nức lòng. Bà là một đại diện tiêu biểu cho đội quân tóc dài, cho phong trào phụ nữ Việt Nam “Anh hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Cùng với chiến trường, bà góp phần không nhỏ vào sự thắng lợi của cuộc “đấu trí” lớn chống kẻ thù xâm lược và bán nước. Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết.



