Cựu chiến binh

Nguyễn Thị Hằng_THCS Ân Đức (2)

Mùi cốm giữa rừng khộp biên biên thùy

Gia Lai08/07/2026Nguyễn Thị Hằng (Đoàn xã Hoài Ân)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùi cốm giữa rừng khộp biên biên thùy

Khi nhắc đến những năm tháng ở chiến trường Campuchia, ký ức trong chú lại ùa về nguyên vẹn. Đó là những năm tháng gian khổ nhất, nhưng cũng là những năm tháng mà tình đồng đội thiêng liêng đến mức chỉ cần một ánh mắt là có thể giao phó cả mạng sống cho nhau.

Cuối mùa mưa năm 1981, đơn vị của chú nhận lệnh chốt giữ một cao điểm không tên gần biên giới Thái Lan. Nhiệm vụ là chặn đường rút lui và tiếp tế của toán quân địch thuộc sư đoàn 920 Pốt. Địa hình vùng này toàn rừng khộp, mùa mưa thì sình lầy ngập đến gối, muỗi rừng đốt xuyên qua cả hai lớp áo bảo vệ, còn sang mùa khô thì lá rụng xơ xác, nóng như thiêu như đốt.

Gạo sấy, lương khô lúc đó cạn dần vì đường tiếp tế từ tuyến sau bị địch phục kích liên tục. Anh em trong chốt phải chia nhau từng hớp nước vũng lá mục, bẻ đôi từng phong lương khô ẩm mốc. Giữa cái đói, cái khát và cái chết rình rập bởi mìn lá, mìn râu tôm bủa vây, tinh thần anh em căng như sợi dây đàn.

Đêm đó, chú nằm cùng công sự với thằng Bình "híp" — quê nó ở ngoại thành Hà Nội, nhập ngũ cùng đợt với chú năm 1979. Bình bị sốt rét ác tính mấy ngày liền, người run bần bật dưới tấm tăng sờn rách nhưng tay vẫn ghì chặt khẩu AK. Trong cơn sốt mê sảng, nó cứ lẩm bẩm: "Mẹ ơi, sắp đến cốm vòng chưa mẹ? Con thèm mùi lúa nếp quê mình quá..."

Cái từ "cốm" của nó làm cả tiểu đội nằm tuyến công sự xung quanh im lặng. Giữa rừng già Campuchia sặc mùi thuốc súng, mùi đất khét và tiếng súng cối cầm chừng của địch, cái mùi hương quê hương ấy nghe sao mà xa xỉ, mà nhói lòng đến thế.

Sáng hôm sau, tiếng súng tạm yên. Thằng súng máy của đơn vị là một cậu em người Khmer Nam Bộ tên là Danh Thương. Nó lầm lụi bò sang công sự của chú, chìa ra một cái bọc nhỏ bằng lá chuối rừng khô.

Chú mở ra, bên trong không phải cốm, mà là mấy nắm gạo nếp nương của đồng bào Kơ-me sấy khô, được nó để dành từ đợt đi bám dân tháng trước, cộng thêm vài củ mài rừng nó vừa đào trộm được ở hốc đá bờ suối lúc chạng vạng.

Thương bảo bằng chất giọng lơ lớ: "Anh Bình thèm cốm Hà Nội, em không có. Em giã cái nếp này với củ mài, anh cho anh ấy ăn đỡ sột soạt cho đỡ nhớ quê."

Chú nhìn nắm "cốm rừng" mà sống mũi cay xè. Chú lay Bình dậy, bón từng chút một vào khuôn mặt hốc hác, xám ngoét vì ngã nước của nó. Thằng Bình ăn được hai miếng, mắt nó hé mở. Nó nhìn chú, nhìn Danh Thương, rồi nhìn nắm hỗn hợp nếp củ mài thô sơ ấy. Nó khóc. Nó bảo: "Ngon quá mày ạ, đúng vị cốm đầu mùa của mẹ tao rồi."

Chính cái "vị cốm quê hương" tình nghĩa ấy, cùng với sự đùm bọc của những người anh em từ mọi miền đất nước (thằng Bắc, thằng Nam, đứa miền Tây) đã nuôi sống tụi chú qua cái mùa khô khốc liệt năm đó. Ba ngày sau, viện binh lên, tụi chú đánh bật trận càn cuối cùng của địch, giữ vững cao điểm.

Thằng Bình năm đó không chết vì sốt rét, nó sống sót trở về và giờ đang ở quê. Nhưng mỗi lần tụi chú gặp lại nhau, nhắc lại "mùi cốm rừng" năm 1981, anh em vẫn ôm nhau khóc.

Cháu ạ, "Thời hoa lửa" của thế hệ chú không phải chỉ có tiếng bom đạn rầm trời hay những chiến công hiển hách. Nó là những khoảnh khắc rất nhỏ như thế: một nắm nếp rừng chia đôi, một lời nói mê sảng về quê hương, và cái tình đồng đội vượt qua cả ranh giới vùng miền, dân tộc để cùng nhau sống sót qua cuộc chiến khốc liệt. Cháu hãy viết lại làm sao để thế hệ trẻ hiểu được, hòa bình hôm nay được đổi bằng những điều giản dị nhưng thiêng liêng như thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nguyễn Thị Hằng_THCS Ân Đức (2) | Câu chuyện thời hoa lửa