Nguyễn Thị Lệ
rong cái nắng vàng của đất Tây Ninh, bà Nguyễn Thị Lệ ở tuổi 80 đón chúng tôi với mái tóc đã bạc trắng như sương. Đôi ánh mắt bà tuy đã mờ đục theo thời gian, nhưng cứ mỗi lần nhắc về một đoạn tình cảm thời hoa lửa, dẫu ngắn ngủi nhưng sâu nặng cùng liệt sĩ Huỳnh Văn Quên - người đã nằm lại chiến trường từ mùa xuân Mậu Thân 1968 - đôi mắt ấy lại lấp lánh một thứ ánh sáng kỳ diệu. Đó là ánh sáng của một tình yêu son sắt, của lời hứa mà bà đã dành gần trọn cuộc đời để gìn giữ. Tình yêu thời hoa lửa Ký ức của bà Lệ lùi về những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ mà hào hùng. Khi ấy, bà là một cô gái đôi mươi, tham gia vào đội ngũ nữ dân công hỏa tuyến, cùng đơn vị gánh nước, gánh gạo, chăm lo hậu cần cho tiền tuyến. Cũng chính trên những cung đường bom cày đạn xới ấy, bà đã gặp ông Huỳnh Văn Quên. Tình yêu của họ nảy mầm giữa lằn ranh sinh tử.Bà nhớ lại những rung động thuở ban đầu, kể bằng chất giọng rưng rưng: "Hồi đó thì tôi cũng thích đi theo mấy ổng. Rồi gặp ông này ổng gửi thơ, ổng động viên đi làm nữa. Gánh nước, gánh nước gánh gạo mà. Vá hai bộ đồ giùm ổng, mà về, hổng biết ổng nghĩ sao mà ổng nói ổng thương. Giờ đồng ý thì ổng về ổng nói gia đình cưới." Đoạn tình cảm gói gọn trong vài câu nói ấy thôi nhưng đã để lại trong bà Lệ những nhớ nhung da diết kéo dài cả nửa thế kỷ. Ngày xưa ấy, thư gửi rất chậm, đường chiến trường chẳng dễ qua, một đời dường như chỉ đủ để yêu một người. Đến tận bây giờ, bà Lệ vẫn có thể ngâm lại vanh vách câu thơ trong lá thư cũ mà ông gửi, câu thơ đã hằn sâu vào tâm khảm bà suốt mấy chục năm qua: "Thư về em mong đợi thư lên/ Thư đi đừng lạc anh chờ nghe thư." “Rồi bà đáp lại sao?” "Đáp lại anh đi làm tròn nhiệm vụ. Tôi nhớ cái câu thơ đó mà tôi ở tới giờ."Cuối năm 1967, không khí chuẩn bị cho chiến dịch lớn vô cùng khẩn trương. Trước khi lên đường tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông Quên tìm gặp bà.
rong cái nắng vàng của đất Tây Ninh, bà Nguyễn Thị Lệ ở tuổi 80 đón chúng tôi với mái tóc đã bạc trắng như sương. Đôi ánh mắt bà tuy đã mờ đục theo thời gian, nhưng cứ mỗi lần nhắc về một đoạn tình cảm thời hoa lửa, dẫu ngắn ngủi nhưng sâu nặng cùng liệt sĩ Huỳnh Văn Quên - người đã nằm lại chiến trường từ mùa xuân Mậu Thân 1968 - đôi mắt ấy lại lấp lánh một thứ ánh sáng kỳ diệu.
Đó là ánh sáng của một tình yêu son sắt, của lời hứa mà bà đã dành gần trọn cuộc đời để gìn giữ.
Tình yêu thời hoa lửa
Ký ức của bà Lệ lùi về những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ mà hào hùng. Khi ấy, bà là một cô gái đôi mươi, tham gia vào đội ngũ nữ dân công hỏa tuyến, cùng đơn vị gánh nước, gánh gạo, chăm lo hậu cần cho tiền tuyến.
Cũng chính trên những cung đường bom cày đạn xới ấy, bà đã gặp ông Huỳnh Văn Quên. Tình yêu của họ nảy mầm giữa lằn ranh sinh tử.Bà nhớ lại những rung động thuở ban đầu, kể bằng chất giọng rưng rưng:
"Hồi đó thì tôi cũng thích đi theo mấy ổng. Rồi gặp ông này ổng gửi thơ, ổng động viên đi làm nữa. Gánh nước, gánh nước gánh gạo mà. Vá hai bộ đồ giùm ổng, mà về, hổng biết ổng nghĩ sao mà ổng nói ổng thương. Giờ đồng ý thì ổng về ổng nói gia đình cưới."
Đoạn tình cảm gói gọn trong vài câu nói ấy thôi nhưng đã để lại trong bà Lệ những nhớ nhung da diết kéo dài cả nửa thế kỷ. Ngày xưa ấy, thư gửi rất chậm, đường chiến trường chẳng dễ qua, một đời dường như chỉ đủ để yêu một người.
Đến tận bây giờ, bà Lệ vẫn có thể ngâm lại vanh vách câu thơ trong lá thư cũ mà ông gửi, câu thơ đã hằn sâu vào tâm khảm bà suốt mấy chục năm qua:
"Thư về em mong đợi thư lên/ Thư đi đừng lạc anh chờ nghe thư."
“Rồi bà đáp lại sao?”
"Đáp lại anh đi làm tròn nhiệm vụ. Tôi nhớ cái câu thơ đó mà tôi ở tới giờ."Cuối năm 1967, không khí chuẩn bị cho chiến dịch lớn vô cùng khẩn trương. Trước khi lên đường tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, ông Quên tìm gặp bà. Ông nắm chặt tay bà, ánh mắt kiên định gửi lại một lời hẹn: "Anh đánh thắng trận này rồi anh về cưới em".Thế nhưng, sau chiến dịch Mậu Thân 1968 khốc liệt, những cánh thư từ ông bặt vô âm tín. Người chiến sĩ trẻ ấy bước vào trận đánh và gửi lại thanh xuân của mình nơi chiến trường, để lại một lời hẹn ước dở dang và một người con gái bắt đầu chuỗi ngày ngóng trông mòn mỏi.
“Tôi đã hứa với ông ấy rồi, bây giờ chết sống cũng một lòng thôi"
Chiến tranh kết thúc, ngày hòa bình, dòng người chiến thắng trở về quê hương trong niềm vui đoàn tụ, trong cờ hoa rực rỡ của ngày vui dân tộc. Nhưng ngày vui ấy, lại chẳng có bóng dáng chàng lính trẻ mà bà Lệ vẫn ngày đêm nhớ mong.
"Tới hòa bình, ai nấy về hết mà hổng thấy ổng về. Lúc đó mới tin ổng đã hy sinh. Anh em mang giấy báo tử về đó, biết chết rồi mà không có tên nên vẫn không tin. Tính đi tìm mà không biết đâu tìm. Nghe nói mà hổng có biết chỗ nào."
Sau đó, gia đình nhận được giấy báo tử. Tuy nhiên, do một chữ cái trên họ tên bị ghi sai, người con gái ấy vẫn nhen nhóm một tia hy vọng mong manh rằng ông còn sống. Bà xin được về làm con dâu của gia đình ông Quên dù hai người chưa một ngày danh chính ngôn thuận tổ chức đám cưới hay đăng ký kết hôn.Suốt gần 60 năm qua, bà thay ông phụng dưỡng cha mẹ đến hơi thở cuối cùng, hương khói vẹn toàn. Đối với gia đình ông Quên, từ lâu đã coi bà là người con dâu hiếu thảo, người chị dâu mẫu mực trong nhà.
"Cả nửa chục người tới hỏi (cưới) mà tôi không có chịu. Tôi đã hứa với ông ấy rồi, bây giờ chết sống gì cũng một lòng thôi."
Đưa bàn tay gầy khẽ chạm vào đôi bông tai nhỏ bên mai tóc bạc phơ, bà Lệ rưng rưng. Đó không đơn thuần là một món trang sức, mà là "sính lễ" muộn màng, là sự công nhận thiêng liêng của người mẹ chồng quá cố dành cho đứa con dâu chưa một lần mặc áo cưới:



