Mẹ Việt Nam Anh hùng

Nguyễn Thị Ngôn

Đất Thường Lang gắn với địa danh Lạc An, Tân Tịch... nằm ở bìa Chiến khu Đ lịch sử, gợi lên trong tâm trí mọi người đây là nơi xa ngái, phải trèo đèo lội suối nhọc nhằn mới tới.

An Giang07/04/2026ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG (ĐOÀN TRƯỜNG CĐSP KIÊN GIANG)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đất Thường Lang gắn với địa danh Lạc An, Tân Tịch... nằm ở bìa Chiến khu Đ lịch sử, gợi lên trong tâm trí mọi người đây là nơi xa ngái, phải trèo đèo lội suối nhọc nhằn mới tới. Nhưng thật ra từ thị xã Thủ Dầu Một đi lên, chỉ hơn ba chục kilômét; còn từ thành phố Biên Hòa xẹt ngang sông Đồng Nai, quãng đường rút ngắn còn nửa. Thời kháng chiến chín năm, Thường Lang là địa bàn hoạt động của nhà chỉ huy quân sự lỗi lạc, nhà thơ chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ. Dấu chân ông in khắp vùng, nay mọi người già còn nhớ. Đất Thường Lang - cũng như cả Chiến khu Đ - hứng chịu hàng trăm cuộc càn lớn nhỏ của quân Pháp, bị tàn phá nhiều lần. Các ngôi nhà gỗ khang trang cháy rụi thay bằng ngôi nhà tranh, rồi thu lại thành chiếc chòi lá miễn là đủ che nắng, che mưa để mọi người đứng chân đánh giặc tạo nên huyền thoại mờ ảo lung linh, hào quang về một “Chiến khu Đ (giặc) đi dễ khó về”. Đến thời chống Mỹ, địch đánh giá đây là mảnh đất nghịch, bất trị. Chúng mở nhiều chiến dịch chống phá cách mạng, càng không khuất phục được lòng dân Thường Lang hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu. Từ năm 1962, Mỹ và tay sai thực hiện “quốc sách” ấp chiến lược, chúng gom dân vào một số điểm, nơi đây biến thành vùng trắng, tự do oanh kích. Nhiều xóm ấp từng đông vui trù phú, vẫn có tên trên bản đồ quân sự Mỹ nhưng có thêm chữ abandonned (đã bỏ đi), hoặc destroyed (đã bị phá hủy). Một số bà con qua sông Đồng Nai, tạm lánh ở xã Thiện Tân (huyện Vĩnh Cửu), trong số đó có gia đình bà Nguyễn Thị Ngôn (Ba Ngôn). Chồng mẹ là ông Nguyễn Văn Xáng, từng tham gia công tác địa phương Thường Lang, thời chín năm chống Pháp. Sau năm 1954, ông hoạt động bí mật, bám trụ địa bàn gây dựng cơ sở, góp phần khôi phục phong trào, giải phóng quê hương. Bốn con còn nhỏ theo mẹ qua ở Thiện Tân (Vĩnh Cửu) tạm lánh bom đạn giặc. Ông cùng hai con gái lớn vào rừng chiến đấu. Thi thoảng, ông móc nối với cán bộ và du kích hai ven sông Đồng Nai, tránh những đợt tàu giặc tuần tra, về thăm nhà và nhận đồ tiếp tế. Mẹ Ba Ngôn mới đầu đi làm mướn kiếm sống qua ngày, nhờ được nhiều bà con tốt giúp đỡ, mẹ thuê ruộng rồi khẩn được một ít đất hoang nên trong nhà có lúa, có tiền. Mỗi khi chồng về, mẹ đều có thứ gì đó để ông mang qua căn cứ: gạo, tiền, thuốc hút, thuốc chữa bệnh... Mẹ không quên hai con gái đang chịu đạn bom cùng nhiều khó khăn gian khổ, hiểm nguy từng phút từng giờ, sắm cho các chị một số quần áo, đồng hồ, đôi bông tai... (ở rừng, ở bụi, nhưng con gái cũng cần điểm tô chút đỉnh chớ!). Mẹ lén đào hầm bí mật trong nhà nuôi chứa một số cán bộ, bộ đội huyện Vĩnh Cửu như các đồng chí: Ba Thái(1), Năm Phê(2), Tám Bảo(3)..., có lúc cũng tiếp tế cho anh em. Mẹ cho gạo vào thùng đạn đại liên, gánh ra góc ruộng xã để đó, đêm có người về lấy. Mấy đứa nhỏ của mẹ ra sức cùng trẻ con trong xóm đi lượm đạn Mỹ nhét đầy lon guigoz, trên bới lượt cơm mỏng, mang theo lúc đi chăn trâu, đi làm ruộng... rồi đặt vào nơi quy ước cho du kích xã. Chị Nguyễn Thị Ốm (Ba Ốm) - con gái mẹ- được phân công làm tổ trưởng phụ nữ Thường Lang. Từ căn cứ của xã ở Lạc An về địa phương khá xa, nhưng chị thường về công tác, xây dựng phong trào trong số bà con ở lại, nhiều lần suýt dính địch phục kích. Đối với lứa tuổi trẻ, bom đạn giặc không hề ngăn cản tình yêu; chị đã quen thân một anh bộ đội, chắc đã hứa hẹn với nhau về tương lai hạnh phúc. Chiều ngày 14/12/1967, trên đường về xã công tác, chị trúng pháo Mỹ dập trên đồi Bà Én (Lạc An). Các người cùng đi lượm được một số mảnh thi thể chị chôn tại chỗ, về sau, mưa gió xóa mất tích. Ông Xáng giấu tin, mãi mấy tháng sau mới cho mẹ hay. Sống trong lòng giặc, mẹ phải nén thương đau, chỉ ngấm ngầm khóc ban đêm để tránh những con mắt cú vọ rình mò. Chị Nguyễn Thị Cụt (Tư Cụt) tính tình vui vẻ hoạt bát, lại thông minh, nên từ khi thoát ly được cử đi học y tá phục vụ căn cứ xã. Chị có người yêu là Tuấn, cán bộ huyện Tân Uyên. Hai người đã đính hôn. Một bữa, vượt sông Đồng Nai ban đêm về thăm mẹ xin phép đính hôn, chỉ một tháng nữa, sẽ có một đám cưới gọn nhẹ giữa muôn ngàn bom đạn giặc trong căn cứ Lạc An. Nhưng hoa hạnh phúc không kịp nở đã lụi tàn, chạng vạng tối 2/2/1968, đúng vào dịp tết Mậu Thân, chị Tư Cụt đi công tác lọt ổ phục kích Mỹ ở phần ruộng ông Chiêu, gần đồi Lồ Ồ và đã hy sinh. Ông Xáng lại giấu bà. Chỉ trong vòng hai tháng, mẹ Ba Ngôn mất liền hai núm ruột, đau thương chất ngất không thể giấu ai. Ông vượt sông Đồng Nai về an ủi mẹ; nhưng nhìn chồng, mẹ càng nhớ thương hai con khôn nguôi. Hai cái tang không đốn gục được mẹ, tiếc thương người đã mất, nhưng còn phải lo cho những người đang sống nữa. Mẹ Ba Ngôn lại lao vào công việc làm ăn thường ngày để có cái cho gia đình sinh sống, có cái tiếp tế cho chồng và anh em cán bộ, bộ đội. Tám Rô bị bắt, khai ra, do đó, mẹ bị bắt hai lần: lần đầu vào năm 1971, chúng giam một tuần rồi thả. Lần thứ nhì vào năm 1973, mẹ bị tù sáu tháng. Bọn điều tra ở một số nhà tù hỏi:”Chồng con đâu “ ; mẹ trả lời trước sau như một: “Ổng đi đâu, tôi không biết. Tôi ở nhà đi làm, nuôi bốn đứa nhỏ cực lắm...” Giam chán, chúng đành phải thả cho về. Mẹ lại âm thầm làm nuôi chồng con và anh em. Có lẽ vì thế, tính tình mẹ ngày càng trầm mặc ít nói. Con trai thứ chín, Nguyễn Văn Xảng (Chín Xảng) vừa lớn, được móc đi làm giao liên cho Huyện đội Vĩnh Cửu. Anh rất gan dạ, sớm khuya được giao nhiệm vụ là đi liền, nên được các đồng chí thương mến. Chiều 15/5/1974, Chín Xảng cùng chị Cưỡng vào căn cứ Huyện đội Vĩnh Cửu ở đồi Bùng Binh. Mẹ Ba Ngôn thấy sau đó một lát, có tiếng nổ rất lớn trong núi. Mẹ lo âu, đoán có chuyện chẳng lành. Trời tối, anh em trong đó ra mời mẹ vô, Chín Xảng và chị Cưỡng hy sinh vì trúng mìn, được an táng ngay đêm đó. Mẹ Ba Ngôn ban ngày phải nén đau buồn, làm lụng và giao thiệp với mọi người bình thường. Chỉ đến đêm khuya thanh vắng, mẹ mới để nước mắt tha hồ tuôn chảy (Mộ liệt sĩ Chín Xảng nay ở nghĩa trang huyện Vĩnh Cửu). Mẹ Ba Ngôn đã được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Độc lập, được địa phương quan tâm giúp đỡ. Mẹ đã hiến dâng một nửa số con cho đất nước. Nếu kể cả em ruột, cháu ruột, thì gia đình mẹ có chín liệt sĩ. Gia đình mẹ Ba Ngôn là gia đình chỉ đứng một phía cách mạng. Mẹ Nguyễn Thị Ngôn vùng Chiến khu Đ bất khuất được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng cao quý theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn