Bài viết

Nguyễn Thị Phụng (Phụng Ký) – Nữ biệt động thành Đà Nẵng hoạt động ngay trong lòng đô thị

Nguyễn Thị Phụng (1915–2009), thường được gọi là bà Phụng Ký, là một trong những nữ biệt động tiêu biểu của Đà Nẵng. Bà vừa làm nghề nhiếp ảnh, vừa biến hiệu ảnh Phụng Ký trên đường Hùng Vương thành cơ sở hoạt động bí mật: nuôi cán bộ, làm giấy tờ và căn cước giả, cung cấp vật chất cho cách mạng, tổ chức nơi ăn ở cho cán bộ hoạt động trong nội thành. Bà từng 5 lần bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giữ, nhưng không khai báo. Trong Tết Mậu Thân 1968, hiệu ảnh của bà từng là nơi ém quân của một tổ đặc công. Ngày 29/3/1975, bà lại cầm máy ảnh ghi lại những khoảnh khắc Đà Nẵng được giải phóng.

Quảng Ngãi21/08/2026Xã Lam Sơn (Xã Lam Sơn)7 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nguyễn Thị Phụng (Phụng Ký) – Nữ biệt động thành Đà Nẵng hoạt động ngay trong lòng đô thị

Thời kỳ lịch sử

Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ – trọng tâm Quảng Nam – Đà Nẵng, đặc biệt giai đoạn hoạt động bí mật trong nội thành Đà Nẵng từ 1953 đến 1975.
1. Cô gái học nghề nhiếp ảnh từ năm 12 tuổi

Nguyễn Thị Phụng sinh ngày 1/5/1915, quê mẹ ở Thạc Gián, Đà Nẵng.

Tuổi thơ của bà không được học hành đầy đủ.

Gia đình nghèo.

Khi Phụng mới 11 tuổi, cha đưa bà vào Phan Rang kiếm sống. Tại đây, bà bắt đầu học nghề vẽ truyền thần và nhiếp ảnh.

Mới 12 tuổi, cô bé Phụng đã biết rửa kính ảnh.

Sau đó bà tiếp tục học chụp ảnh.

Một cô gái nhỏ bé, gầy gò, không được đến trường như nhiều bạn bè cùng trang lứa, nhưng lại có đôi bàn tay rất khéo.

Bà tự học chữ Quốc ngữ.

Tự học nghề.

Và từng bước trở thành một người thợ ảnh có tay nghề.

https://images.openai.com/static-rsc-4/8oQH3d1W6lknXcHDIJdubkZ7VP1S6A2PSBNzKylw7bW2sJHx1itnasDfR9_VA87ph_8Nc6QhjoDpjviVaP3I92jJiWsGko7M4frKqUO1HCJsbtSYbION_yS_Io7i8rTiJ2d27hK83uFcQxXD7XVabBjDHBK9akCttXTlcvD5u36DH-LBAWUf-OnqdGwCFS8R?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/Bvyz6BUo5BhRrb9JrJY-BF400D8BdcNyv7uKxrnxSUTMP_7yD_nhtVNKfdE1-VqNpCA5LcAlwOcztIBPp0uhGan9SbVWR0xTPYQJ352VpESGHtfqi1Twj9JGsQDn5rgcmacLqW5vzHhXU38JTZXjW4Vea8m7mFJKMn3u5iOsafIigBJuIlIZyQ4gzKG2rxcV?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/CBJAOcoFnEIsaVmFcrWf8nvjWITrMqBL0sa8Eyx6DvfkpR4AOcChC0iTmmdWHm5PJzgP0sCEv3XjgzHxAm0tOS4mo_TGoTh6Mqx0kh9lAScKxAk5kK6wV_EDfYF5H-p9Aie4t0UZKpKpga9K1IjZurfICYCpaO8sWURNd0AB_oJikZZmoi3c3NtivIUDc70E?purpose=fullsize

Chú thích: Đà Nẵng và khu vực Hùng Vương – nơi về sau gắn với hiệu ảnh Phụng Ký.
Nguồn: Tư liệu về lịch sử Đà Nẵng và hồi ức về bà Phụng Ký.


2. Chiếc máy ảnh trở thành kế sinh nhai

Năm 1934, Phụng kết hôn với Hà Quốc Thể, cũng là người làm nghề nhiếp ảnh.

Hai vợ chồng dành dụm mua một chiếc máy ảnh.

Họ đi chụp ảnh dạo trên đường phố Đà Nẵng.

Chụp ở:

ga Đà Nẵng.

chợ Hàn.

bờ sông Hàn.

Những bức ảnh chân dung của Phụng ngày càng được khách hàng yêu thích.

Bà có khả năng đặc biệt trong việc tạo dáng, chọn góc chụp và trang trí ảnh.

Từ một cô bé học nghề để kiếm sống, Phụng dần trở thành một trong những người phụ nữ đầu tiên ở Đà Nẵng làm nghề nhiếp ảnh chuyên nghiệp.


3. Năm 1940 – hiệu ảnh Phụng Ký ra đời

Sau nhiều năm tích cóp, Phụng quyết định mở hiệu ảnh riêng.

Sau Tết Canh Thìn 1940, một hiệu ảnh mang tên:

Phụng Ký

ra đời trên đường Hùng Vương, gần chợ Hàn.

“Phụng” là tên của bà.

“Ký” mang nghĩa ghi lại.

Ghi lại con người.

Ghi lại cuộc sống.

Không ai lúc đó biết rằng cái tên ấy sau này sẽ trở thành một địa chỉ đặc biệt trong lịch sử cách mạng Đà Nẵng.

Bởi chiếc máy ảnh của Phụng Ký không chỉ ghi lại lịch sử.

Nó còn giúp bà tham gia tạo nên lịch sử.


4. Từ người chụp ảnh đến người hoạt động cách mạng

Ngay từ tuổi thiếu niên, Phụng đã có cơ hội tiếp xúc với những người hoạt động cách mạng.

Qua Phạm Thị Hương Kỳ, bà làm quen với các thành viên của phong trào phụ nữ và những người hoạt động cách mạng ở Đà Nẵng.

Bà gặp những người như:

Thái Thị Bôi.

Phạm Thị Xuân Cảnh.

Phan Thị Nể.

Lê Văn Hiến.

Và nhiều cán bộ khác.

Những cuộc gặp ấy dần mở ra trước mắt cô gái trẻ một thế giới khác:

một cuộc đấu tranh đang diễn ra ngay trong thành phố.


5. Những năm kháng chiến chống Pháp

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ ở Đà Nẵng cuối năm 1946, gia đình Phụng tản cư ra vùng tự do.

Ở đó, bà không đứng ngoài cuộc.

Bà tham gia:

Hội Phụ nữ.

Hội Mẹ chiến sĩ.

Công tác chăm sóc thương binh.

Vận động phụ nữ.

Xây dựng phong trào.

Năm 1947, bà được bầu vào Ban Chấp hành Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Nam.

Năm đó, bà cũng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.


6. Hiệu ảnh phục vụ kháng chiến

Năm 1951, Phụng được giao mở lại Hiệu ảnh Phụng Ký ở Tam Kỳ.

Nhưng lần này, chiếc máy ảnh không chỉ phục vụ khách hàng.

Bà chụp ảnh làm hồ sơ cho cán bộ kháng chiến.

Hiệu ảnh vừa là nơi kiếm sống.

Vừa đóng góp cho Quỹ kháng chiến.

Và trở thành một mắt xích phục vụ công tác cách mạng.

Đây chính là lúc nghề nhiếp ảnh và hoạt động cách mạng của bà bắt đầu hòa vào nhau.


7. Năm 1953 – trở lại Đà Nẵng

Năm 1953, tổ chức quyết định đưa Phụng trở lại Đà Nẵng hoạt động hợp pháp.

Bà mở lại Hiệu ảnh Phụng Ký tại số 23C Hùng Vương, nay là khu vực số 79 Hùng Vương.

Bề ngoài:

một hiệu ảnh.

Bên trong:

một cơ sở cách mạng.

Cán bộ cách mạng có thể đến đây dưới những vỏ bọc khác nhau.

Có người giả làm thợ học nghề.

Có người đến chụp ảnh.

Có người đến giao dịch như một khách hàng bình thường.

Nhưng phía sau hoạt động kinh doanh ấy là cả một hệ thống bí mật.


8. Những căn cước giả

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Phụng là:

làm giấy tờ giả cho cán bộ cách mạng.

Trong một thành phố bị kiểm soát chặt chẽ, một người không có giấy tờ hợp pháp gần như không thể hoạt động lâu dài.

Một căn cước giả có thể quyết định:

một cán bộ có qua được trạm kiểm soát hay không.

Có bị bắt hay không.

Có thể tiếp tục hoạt động trong nội thành hay không.

Vì thế, Phụng xem công việc này như một thứ:

“vũ khí bí mật”.

Bà làm giấy tờ.

Chụp ảnh.

Chuẩn bị hồ sơ.

Giúp cán bộ có một身份 hợp pháp để hoạt động trong lòng đối phương.


9. Hiệu ảnh trở thành nơi cán bộ Thành ủy lui tới

Những cán bộ như Trương Trọng Cảnh, Đoàn Tiềm từng đến hiệu ảnh dưới vỏ bọc thợ học nghề.

Họ ở lại.

Trao đổi công việc.

Bàn bạc nhiệm vụ.

Hiệu ảnh trở thành nơi:

ăn ở.

giao liên.

làm giấy tờ.

nuôi cán bộ.

giao nhận tiền và vật chất.

Tất cả diễn ra ngay giữa một thành phố mà đối phương tưởng rằng mình kiểm soát được.

Đó chính là sức mạnh của hoạt động biệt động:

không nhất thiết phải trốn khỏi thành phố.

Mà phải sống ngay giữa thành phố nhưng không để đối phương biết mình đang làm gì.


10. Người phụ nữ mặc áo bà ba đen

Người dân Đà Nẵng biết Phụng Ký như một nữ nhiếp ảnh gia.

Một người phụ nữ thường mặc áo bà ba.

Cầm máy ảnh.

Đi lại trên phố.

Chụp chân dung cho khách.

Không ai nhìn thấy phía sau chiếc máy ảnh ấy là một mạng lưới bí mật.

Đó chính là vỏ bọc hoàn hảo.

Bởi nghề nhiếp ảnh cho phép bà:

đi lại.

gặp gỡ nhiều người.

tiếp xúc với nhiều tầng lớp.

chụp ảnh và làm giấy tờ.

Và quan trọng nhất:

sự hiện diện của bà trong thành phố là hoàn toàn hợp pháp.


11. Sau Hiệp định Genève

Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết.

Nhưng đối với những người hoạt động cách mạng ở miền Nam, chiến tranh chưa kết thúc.

Đà Nẵng bước vào thời kỳ đàn áp và kiểm soát ngày càng gắt gao.

Chính quyền Ngô Đình Diệm bắt thanh niên.

Truy quét cơ sở.

Đàn áp phong trào.

Phụng Ký lại bước vào một giai đoạn nguy hiểm hơn.


12. Cuộc biểu tình ngày 1/8/1954

Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Đà Nẵng, bà Phụng tham gia vận động phụ nữ và tiểu thương xuống đường đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, phản đối bắt thanh niên đi lính.

Ngày 1/8/1954, hàng nghìn người tham gia cuộc đấu tranh.

Đoàn người vây quanh đồn Võ Tánh.

Hai phụ nữ là Phùng Thị TươngĐặng Thị Trợ trèo lên cổng đồn, giật cờ của đối phương và cắm cờ đỏ sao vàng.

Họ bị bắn tử thương.

Đám tang sau đó trở thành một cuộc tuần hành lớn.

Phụng Ký được giao chuẩn bị vòng hoa và các biểu ngữ.

Đó là một trong những cuộc đấu tranh công khai đầu tiên mà bà tham gia trong giai đoạn mới.


13. Lần bắt đầu tiên trong thời kỳ chống Mỹ

Sau các cuộc đấu tranh, chính quyền tăng cường khủng bố.

Chồng bà, Hà Quốc Thể, bị bắt.

Bị giam tại nhà lao Con Gà.

Bị tra tấn.

Nhưng ông không khai nơi ở của cán bộ.

Sau hơn một tháng, ông được thả.

Sau đó đến lượt Phụng bị bắt.

Bị đánh.

Bị thẩm vấn.

Nhưng bà không khai báo.

Cuối cùng:

địch phải thả bà.


14. Pháp danh và ngôi chùa

Sau khi ra tù, Phụng tiếp tục hoạt động.

Nhưng lần này bà chọn một lớp vỏ bọc mới.

Bà cùng chồng tham gia Phật giáo.

Bà lấy pháp danh:

Quảng Cung.

Chồng bà:

Quảng Điện.

Sau đó, bà đến chùa Tịnh Giác.

Ngôi chùa trở thành một địa điểm thuận lợi để hoạt động.

Một người phụ nữ đi chùa.

Một Phật tử.

Một người làm nghề nhiếp ảnh.

Những lớp vỏ ấy giúp bà tiếp tục hoạt động ngay trong lòng thành phố.


15. Lần bắt thứ hai – năm 1960

Năm 1960, Phụng bị bắt lần thứ hai theo Luật 10/59 của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Lý do liên quan đến việc hai người con trai của bà đã tập kết ra Bắc.

Bà bị giam hơn một tháng.

Nhưng sau cùng lại được thả.

Không một nhà tù nào khiến bà từ bỏ con đường mình đã chọn.


16. Lần bắt thứ ba – năm 1963

Năm 1963, Phụng lại bị bắt.

Lần này, bà bị xem là người kích động chống chính quyền.

Bị tra khảo.

Bị hỏi về hoạt động cách mạng.

Nhưng bà giữ nguyên một câu chuyện:

Tôi có chồng đau yếu, có nhiều con, chỉ biết làm nghề chụp ảnh để nuôi gia đình.

Không biết cộng sản.

Không biết những gì họ muốn biết.

Sau khoảng hai tháng:

họ lại phải thả bà.

Ba lần bị bắt.

Ba lần trở về.


17. Chiếc máy ảnh tiếp tục hoạt động

Từ năm 1964 đến 1967, Phụng tiếp tục đóng góp tiền cho cơ sở cách mạng.

Nhưng tiền chưa đủ.

Cán bộ cần:

thuốc men.

dụng cụ y tế.

vải vóc.

quần áo cải trang.

giấy tờ.

nơi ăn ở.

Phụng tham gia tổ công tác Bình Triệu, bí số T60, tìm cách đưa hàng hóa và vật chất từ nội thành ra hậu cứ.

Một người phụ nữ làm nghề nhiếp ảnh nhưng đồng thời trở thành:

người vận chuyển.

người cung cấp tài chính.

người làm giấy tờ.

người che giấu cán bộ.


18. Phụng Ký II và Phụng Ký III

Cán bộ cách mạng hoạt động trong Đà Nẵng ngày càng đông.

Nhu cầu kinh phí cũng tăng.

Năm 1968, bà mở thêm:

Hiệu ảnh Phụng Ký II gần Chợ Cồn.

Năm 1969, mở tiếp:

Phụng Ký III ở khu vực Thanh Khê.

Bề ngoài là mở rộng kinh doanh.

Nhưng một phần mục đích là:

tạo thêm nguồn thu để nuôi cơ sở cách mạng.

Đây là một cách hoạt động rất đặc biệt.

Không dùng hiệu ảnh chỉ để che giấu.

Mà dùng chính hoạt động kinh doanh để tạo nguồn lực cho cách mạng.


19. Tết Mậu Thân 1968 – hiệu ảnh trở thành nơi ém quân

Tết Mậu Thân.

Đà Nẵng bước vào một trong những thời khắc dữ dội nhất của chiến tranh.

Một tổ đặc công T89, do Lê Nguyên Hồng chỉ huy, được bí mật bố trí tại hiệu ảnh Phụng Ký.

Họ ở ngay trong lòng thành phố.

Ngay tại nơi người dân vẫn đến:

chụp ảnh.

Đó là một trong những khoảnh khắc tiêu biểu nhất cho cách hoạt động của biệt động thành:

người lính có thể nằm ngay sau bức tường của một hiệu ảnh mà đối phương không biết.

Theo tư liệu được dẫn lại, tổ đặc công T89 từ đây tiến công đơn vị Quân vụ của đối phương.

https://images.openai.com/static-rsc-4/I7pDE2jmWqHxln61CGqy5TbWn2Is8OZfl3uwUJyE-X5Qc-EXoSiKW2neVTxpwJS28AH2s6rS3KMBVFLGTGviv3Je1Q4otZfkho1D6-JxfsaX31dIFG0ZhCuBkq2B1ClpTI_UrA_zfnNW06kTDfBC2uuIjamg_zkhgfAoHqxr5ajjJjHuldLswkf4LMq593pi?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/R-_hGqvZyUsBeHKuq7rjbzx5nx0FTpj860-Fm1oA9udTn9cdE-h8HXv45kMTunZ75t3tMb85xAe4oh2ojWf3Z0s5Wtxlgs0H3JAY_cypNdthe5zAamz5cIRQSq0TSkwvNF6q7LoSU08KrC6kArGBHbtVSa0enqTo-x17JRRSNj-2d5zwA-yHqSFB6svS6e5g?purpose=fullsize

Chú thích: Đà Nẵng trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; hiệu ảnh Phụng Ký là một trong những cơ sở gắn với hoạt động biệt động nội thành.
Nguồn: Bảo tàng Đà Nẵng; tư liệu về bà Phụng Ký.


20. Những căn cước giả sau Mậu Thân

Sau Tết Mậu Thân, nguy cơ càng lớn.

Đối phương thay đổi mẫu căn cước.

Có:

ảnh.

dấu nổi.

tên đánh máy.

Nhưng Phụng vẫn tìm cách làm.

Càng khó:

càng phải làm thật.

Một tấm căn cước giả có thể giúp một cán bộ bước qua một chốt kiểm soát.

Một căn cước có thể là ranh giới giữa:

được đi tiếp

bị bắt.

Chiếc máy ảnh vì vậy tiếp tục trở thành một thứ vũ khí đặc biệt.


21. Lần bắt thứ tư – năm 1970

Tháng 5/1970, Phụng bị bắt lần thứ tư.

Lần này, đối phương nghi bà làm căn cước giả cho cán bộ cách mạng.

Chúng lục soát hiệu ảnh Phụng Ký.

Muốn tìm cán bộ đang được che giấu.

Nhưng không tìm thấy.

Phụng bị đưa vào Kho Đạn rồi chuyển đến nhà lao Thanh Bình.

Sau ba tháng, bà bị đưa ra xét xử với cáo buộc làm giấy tờ cho Việt Cộng.

Bản án:

2 năm tù.

Bà bị đưa đến nhà lao Thủ Đức ở Biên Hòa.


22. Trong nhà tù, bà vẫn hoạt động

Ngay cả trong tù, Phụng không chịu sống như một người chỉ chờ ngày mãn hạn.

Bà tham gia sinh hoạt với những phụ nữ bị giam giữ.

Tổ chức văn nghệ.

Vẽ pano.

Động viên chị em.

Nhà tù trở thành một không gian đấu tranh khác.

Không có máy ảnh.

Không có hiệu ảnh.

Nhưng vẫn có:

tinh thần.

ý chí.

sự đoàn kết.


23. Ra tù nhưng không dừng lại

Giữa năm 1972, Phụng mãn hạn tù và trở về Đà Nẵng.

Nhưng bị quản thúc.

Đi đâu cũng phải trình báo.

Một người vừa ra khỏi nhà tù.

Một người đã bị bắt bốn lần.

Đối phương tưởng rằng lần này bà sẽ sợ.

Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau:

Phụng lại nhận nhiệm vụ.

Bà vận động trí thức, nhân sĩ Đà Nẵng ủng hộ cách mạng.

Vận động những người có ảnh hưởng trong xã hội.

Và tiếp tục hoạt động hợp pháp.


24. Lần bắt thứ năm – năm 1973

Năm 1973, Phụng bị bắt lần thứ năm.

Nhưng lần này cũng không giữ được bà lâu.

Không khai thác được gì:

họ phải thả bà.

Năm lần bị bắt.

Năm lần đối mặt với nhà tù.

Nhưng không lần nào khiến bà từ bỏ hoạt động.


25. Nhiệm vụ cuối cùng trước ngày giải phóng

Tháng 10/1973, Phụng tham dự Đại hội Phụ nữ Đặc khu Quảng Đà.

Tại đây, bà nhận nhiệm vụ:

hoạt động hợp pháp trong nội thành Đà Nẵng.

công tác binh vận.

vận động giáo giới, sinh viên, học sinh.

tiếp tục kinh tài nuôi quân.

Đây là những nhiệm vụ cuối cùng của bà trong chiến tranh.

Và bà tiếp tục làm cho đến những ngày cuối cùng.


26. Ngày 29/3/1975

Trưa 29/3/1975.

Đà Nẵng rung chuyển.

Quân Giải phóng tiến vào thành phố.

Xe tăng xuất hiện trên đường phố.

Những người dân đổ ra đường.

Cờ xuất hiện.

Một thành phố từng bị chiến tranh bao phủ suốt nhiều năm đang bước sang một thời khắc mới.

Phụng Ký nhìn thấy điều đó.

Và bà làm một việc rất tự nhiên đối với một người đã cầm máy ảnh gần nửa thế kỷ:

bà cầm máy lên.

Bà cùng con gái Hà Thị Bé Hiền đứng trên ban công hiệu ảnh.

Và ghi lại:

những khoảnh khắc Đà Nẵng được giải phóng.

https://images.openai.com/static-rsc-4/XMZ3Gs4thsswq-GstuWl5TT1hrJevp-a9k17WT5x8wLi68DvMfU5DA0ymDSK264Jww_tiiNmyJdKtAzKiA1PEADofZUX6D5EQTEfX-UWWhqRpbf8xLbXYwDs288W47iG2whwdyqbI8fsedxjTt1uYiR5Yu047VfIaTOCos7pAp0NnLv9r7oqhzTi40xasg3r?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/X-By38kHJN4X02Wdtza4JnD9KN8YV5MCXNWTG7Qconis4rkfMEQVxhtrJPh0PNi2W1vITX-bwNqaphRPe6_SAV-lkJqmokGw9kI44pIrBWfd1sPTbnFGQ68EOzoCWDv_yI_xf8KFavUaBHZtheaxtrr5IsN4U0IfTdRyyei738IYvcJpTULnBrJkDkvN1C5x?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/ROAsuiONgLhEDH3RV2X1TUUzl_qvQ2uajS_fBNRdRlezahbbPMCEpn6qee5dlaz22t95H4ez46pcdsKGkUx2JFWcHX2OKvsS4kV8Zk-KrA35F1v9EIG8yfG5ikD2rCfAOYk7XpuNbtI_LVSiCStPVeUDAGldd9fj0LncMWZKssfINpSqNzwdJqp3_9RWQneT?purpose=fullsize

4

Chú thích: Đà Nẵng ngày 29/3/1975 – những hình ảnh lịch sử được bà Phụng Ký và gia đình ghi lại.
Nguồn: Tư liệu ảnh lịch sử Đà Nẵng; Bảo tàng Đà Nẵng.


27. Người phụ nữ ghi lại ngày mình đã chờ đợi

Có một điều rất đẹp trong câu chuyện này.

Phụng Ký đã dùng máy ảnh suốt cuộc đời để ghi lại người khác.

Nhưng ngày 29/3/1975:

bà ghi lại lịch sử của chính mình.

Một người phụ nữ từng sống trong lòng thành phố dưới sự kiểm soát của đối phương.

Từng làm căn cước giả.

Từng che giấu cán bộ.

Từng bị bắt năm lần.

Từng vào tù.

Giờ đây đứng trên ban công chính hiệu ảnh của mình và nhìn thấy:

thành phố được giải phóng.


28. Sau ngày giải phóng

Sau năm 1975, Phụng tiếp tục hoạt động trong công tác phụ nữ.

Bà tham gia vận động giải thể một số cơ sở nuôi trẻ mồ côi, đưa các em trở về với gia đình và góp phần xây dựng nhà trẻ đầu tiên của Đà Nẵng sau giải phóng.

Năm 1976, bà được cử làm Hội phó Hội Phụ nữ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

Đến năm 1979, bà nghỉ hưu.

Nhưng chiếc máy ảnh vẫn không rời tay bà.


29. Người phụ nữ 85 tuổi vẫn cầm máy ảnh

Điều đáng kinh ngạc là:

tuổi 85, Phụng Ký vẫn chụp ảnh.

Không còn là những bức ảnh phục vụ hoạt động bí mật.

Không còn những căn cước giả.

Không còn những cán bộ cần nơi trú ẩn.

Bà ghi lại:

một Đà Nẵng đang đổi mới.

Một thành phố đã đi qua chiến tranh.

Một thành phố đang xây dựng lại.

Một lần nữa, chiếc máy ảnh của bà lại làm đúng công việc mà nó đã làm từ thuở thiếu nữ:

ghi lại cuộc sống.


30. Một đời – hai cuộc chiến – năm lần vào tù

Cuộc đời Nguyễn Thị Phụng trải qua gần như toàn bộ thế kỷ XX.

Từ thời Pháp thuộc.

Đến Cách mạng Tháng Tám.

Kháng chiến chống Pháp.

Hiệp định Genève.

Những năm đàn áp ở miền Nam.

Tết Mậu Thân.

Những năm cuối chiến tranh.

Ngày Đà Nẵng giải phóng.

Và những năm đầu xây dựng thành phố sau 1975.

Bà đã năm lần bị bắt trong thời kỳ hoạt động cách mạng chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Nhưng điều đáng nhớ nhất không phải số lần bà bị bắt.

Mà là:

sau mỗi lần được thả, bà lại trở về công việc của mình.


31. Chiếc máy ảnh – một “vũ khí” đặc biệt

Trong cuộc đời Phụng Ký, chiếc máy ảnh có ít nhất ba vai trò.

Thứ nhất – kế sinh nhai.

Nó giúp gia đình bà sống.

Thứ hai – vỏ bọc.

Một nữ nhiếp ảnh gia đi lại trong thành phố là điều hoàn toàn bình thường.

Thứ ba – công cụ cách mạng.

Nó giúp bà làm giấy tờ, căn cước, phục vụ cán bộ và ghi lại những khoảnh khắc lịch sử.

Vì thế, câu chuyện của Phụng Ký không đơn giản là câu chuyện về một nữ biệt động.

Đó còn là câu chuyện về:

cách một người biến nghề nghiệp của mình thành một phần của cuộc đấu tranh.


32. Một hiệu ảnh giữa lòng Đà Nẵng

Nếu nhìn từ bên ngoài, Phụng Ký chỉ là một hiệu ảnh.

Khách bước vào.

Chụp ảnh.

Lấy ảnh.

Trả tiền.

Đi ra.

Nhưng phía sau đó có thể là:

một cán bộ đang trú ẩn.

Một bộ giấy tờ đang được làm.

Một khoản tiền được chuyển vào cơ sở.

Một người cần được đưa ra khỏi thành phố.

Một tổ chiến đấu đang chờ giờ xuất phát.

Đó chính là lý do hiệu ảnh ấy có vị trí đặc biệt trong lịch sử biệt động thành Đà Nẵng.


33. Người nữ biệt động không cầm súng vẫn ở tuyến đầu

Phụng Ký không phải lúc nào cũng trực tiếp cầm súng.

Nhưng bà làm những công việc mà nếu bị phát hiện:

có thể phải trả giá bằng mạng sống.

Nuôi cán bộ.

Làm giấy tờ giả.

Che giấu người.

Vận chuyển hàng.

Kinh tài.

Binh vận.

Xây dựng cơ sở.

Và hoạt động trong lòng thành phố.

Đó là một kiểu chiến đấu khác.

Âm thầm hơn.

Nhưng không kém phần nguy hiểm.


34. Một di sản bằng hình ảnh

Sau chiến tranh, hàng trăm bức ảnh do Phụng Ký chụp trở thành tư liệu quý về Đà Nẵng.

Có những bức ảnh về con người.

Có những bức ảnh về phố xá.

Có những bức ảnh ghi lại những biến động lịch sử.

Đặc biệt, những hình ảnh về ngày Đà Nẵng giải phóng 29/3/1975 trở thành những chứng tích trực quan quý giá.

Bởi vậy, người ta gọi bà là người đã:

“chép lịch sử Đà Nẵng bằng hình ảnh.”


35. Những phần thưởng cuối đời

Với những đóng góp cho cách mạng và kháng chiến, bà được trao tặng nhiều phần thưởng, trong đó có:

Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và hạng Nhì.

Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

Huân chương Độc lập hạng Ba.

Đó là sự ghi nhận đối với một cuộc đời gần 40 năm gắn bó với cách mạng và hai cuộc kháng chiến.


36. Những năm cuối

Nguyễn Thị Phụng vẫn sống tại Đà Nẵng.

Bà tiếp tục cầm máy ảnh.

Những năm cuối đời, sức khỏe đã yếu nhưng tình yêu với nhiếp ảnh vẫn còn.

Bà qua đời ngày 20/5/2009, tại Đà Nẵng, hưởng thọ 94 tuổi.

Một người phụ nữ đã sống gần trọn thế kỷ.

Và gần như toàn bộ thế kỷ ấy gắn với chiếc máy ảnh.


37. Vì sao Phụng Ký là một nhân vật đặc biệt của Phần XVI?

Trong XVI. NHÂN VẬT TỪ CÁC CHIẾN TRƯỜNG KHU 5 – QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG, Nguyễn Thị Phụng có một vị trí rất đặc biệt.

Bà không phải vị tướng.

Không phải người chỉ huy một trận đánh lớn.

Không phải người nổi tiếng trên chiến trường.

Bà là:

một người phụ nữ sống ngay giữa thành phố.

Và chính từ căn nhà của mình:

bà nuôi cán bộ.

làm giấy tờ giả.

cung cấp tiền.

che giấu lực lượng.

làm công tác binh vận.

ghi lại lịch sử bằng máy ảnh.

Đó là một lát cắt rất đặc biệt của chiến trường Khu 5.


Lời kết – Chiếc máy ảnh đứng giữa lịch sử

Nguyễn Thị Phụng bắt đầu cầm máy ảnh từ khi còn là một cô bé.

Ban đầu, chiếc máy ảnh giúp bà kiếm sống.

Sau đó, nó trở thành nghề nghiệp.

Rồi nó trở thành vỏ bọc.

Và cuối cùng:

trở thành một thứ vũ khí đặc biệt của người nữ biệt động.

Chú thích: Địa điểm hiệu ảnh Phụng Ký trên đường Hùng Vương, Đà Nẵng – nơi gắn với hoạt động nhiếp ảnh và hoạt động cách mạng của bà Nguyễn Thị Phụng.
Nguồn: Tư liệu lịch sử Đà Nẵng; Văn Nghệ Đà Nẵng.

Năm lần bị bắt.

Nhiều lần bị thẩm vấn.

Nhà tù.

Quản thúc.

Theo dõi.

Nhưng mỗi lần trở về, bà lại tiếp tục.

Cho đến trưa 29/3/1975.

Khi xe tăng tiến vào Đà Nẵng, bà không chạy.

Không trốn.

Bà đứng trên ban công hiệu ảnh.

Cầm máy ảnh.

Và chụp.

Có lẽ đó là một trong những hình ảnh đẹp nhất về cuộc đời Phụng Ký.

Người phụ nữ đã dành cả đời ghi lại hình ảnh con người, cuối cùng lại đứng trên ban công của chính mình để ghi lại khoảnh khắc thành phố quê hương được giải phóng.

Và khi chiến tranh kết thúc, bà vẫn tiếp tục cầm máy.

Đến tuổi 85.

Bởi với Nguyễn Thị Phụng, chiếc máy ảnh không chỉ là nghề nghiệp.

Nó là cách bà nhìn thế giới.

Là cách bà kiếm sống.

Là cách bà chiến đấu.

Và cũng là cách bà để lại cho các thế hệ sau một điều mà chiến tranh không thể phá hủy:

ký ức.

Nguyễn Thị Phụng – Phụng Ký: nữ biệt động thành Đà Nẵng đã sống giữa lòng đô thị, dùng chính nghề nhiếp ảnh để che chở cách mạng, và dùng chiếc máy ảnh để ghi lại những trang sử mà chính bà đã góp phần làm nên.

image.png

Bà Hà Phương Lan - con gái của nhiếp ảnh gia Phụng Ký - nữ biệt động thành nổi tiếng của Đà Nẵng và ông Huỳnh Ngọc Kim - Chủ tịch Hội tù yêu nước quận Thanh Khê, Đà Nẵng

image.png


HSSV ghi lại những hình ảnh tư liệu về sự kiện lịch sử được trình chiếu trong chương trình. Đây là những bức ảnh do nhiếp ảnh gia Phụng Ký thực hiện

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn