Nguyễn Thị Sảnh
Mẹ sinh năm 1898 ở làng Bình Long, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) với những rặng tre xanh thẳm cao vút, nghiêng mình bên dòng sông Đồng Nai.
Mẹ sinh năm 1898 ở làng Bình Long, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) với những rặng tre xanh thẳm cao vút, nghiêng mình bên dòng sông Đồng Nai. Khó có thể tưởng tượng miền quê này đã từng là một trong những địa bàn tranh chấp ác liệt trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Làng quê thật nghèo về vật chất mà thật giàu lòng yêu nước. Ngoài những người con liệt sĩ, nói về mẹ là nói về tấm lòng chăm sóc bộ đội không tiếc thân mình, không nề hà của cải vật chất trong những năm trường kỳ kháng chiến. Là dân của vùng căn cứ Chiến khu Đ, bốn trong số tám người con của mẹ theo cha thoát ly. Bốn người còn lại cùng mẹ hăng hái tham gia vào các phong trào cách mạng, tích cực đóng góp sức người, sức của tiếp tế lương thực, vật dụng cho kháng chiến. Chiến tranh ngày càng khốc liệt, phải dẫn con dời chỗ ở đôi ba lần, cuộc sống bươn chải thật khó khăn, mẹ vẫn không xao lãng nhiệm vụ của mình. Số tiền dành dụm qua việc bán từng cái bánh ú, bánh cam, mẹ gom góp mua thuốc men gởi vào căn cứ. Trong nỗi khổ đến cùng cực, mẹ vẫn chịu đựng âm thầm, không một lời than van. Năm 1947, cái đau xé ruột lần đầu đến với mẹ là tin báo tử người con thứ tư - Nguyễn Công Danh - bị bắn trọng thương khi lọt ổ phục kích, anh bắt một số tên địch phải chết theo mình bằng quả lựu đạn do chính anh rút chốt giấu dưới bụng. Sau tiếng nổ long trời, thân xác anh hòa lẫn trong đất. Sáu năm sau đó, mẹ như người điên dại khi đón nhận cái tang của chị Nguyễn Thị Thế, người con thứ sáu, trên đường công tác bị máy bay oanh tạc, chị hy sinh mà chưa kịp làm vợ, vì chỉ một tháng nữa thôi, hôn lễ sẽ cử hành. Nỗi đau mất con chưa lắng đọng thì năm 1958, mẹ lại vấn vành khăn tang tiễn chồng vào cõi hư vô do cơn bệnh hiểm nghèo bởi di chứng của những lần bị tra tấn tàn bạo trong nhà lao Côn Đảo. Số phận nghiệt ngã, đắng cay vẫn không chịu buông tha người cô phụ. Tang chồng chưa mãn, cái tang của người con lớn Nguyễn Hiền Dương lại chồng lên đôi vai gầy yếu, lên tấm lưng đã bắt đầu còng xuống của mẹ. Suốt mấy ngày trời, xác anh bị giặc phơi nắng và phục kích chờ người nhà đến nhận, bởi lẽ anh là Tỉnh ủy viên “một mạng của anh bằng cả trăm mạng khác”, như lời bọn giặc nói. Lần này, người nhà phải đưa mẹ lánh lên Tây Ninh, mong mẹ phần nào khuây khỏa. Nhưng làm sao nguôi ngoai được, khi mà chưa đầy mười lăm năm mẹ mãi mãi mất đi cả bốn người thân. Nỗi đau của mẹ không dừng ở đó, anh Nguyễn Thành Long, đứa con trai còn lại, niềm hy vọng cuối cùng trong đời mẹ đã vĩnh viễn ra đi năm 1968 sau trận bom B52 của Mỹ. Tin Long hy sinh được gia đình giấu kín đến tận sau này vì sợ người mẹ đã quá nhiều đau khổ, mất mát không chịu nổi với cái tin báo tử thứ năm này. Mẹ không hề hay biết để khóc con bằng nước mắt khô đặc của người già, lòng vẫn nuôi hy vọng ngày thống nhất đất nước con sẽ về lao vào vòng tay nhớ nhung của mẹ. Rồi tình cờ mẹ cũng biết được anh Long đã hy sinh. Suốt đêm hôm ấy, không nói một lời, những ngón tay run rẩy của mẹ lục tìm kỷ vật còn sót lại của Long. Trong số năm người hy sinh, mẹ chỉ giữ được một bộ hài cốt của chồng, còn các con thì mất xác, không biết những núm ruột ấy giờ đang trôi nổi nơi đâu. Chết con, mẹ chết đi một lần, khi con chết mất xác, lòng mẹ lại hai lần chết đi. Sự cô đơn trong lòng mẹ lên đến tột cùng của nhiều sự cô đơn cộng lại. Nỗi đau trong lòng mẹ, đau đến mức không thể nhớ những cái đau riêng, nó lặn sâu vào lòng mà mẹ không thể gọi tên ra được. Có dịp mẹ lại nhắc đến con mình với cả sự hãnh diện và tự hào, tràn đầy tình yêu thương. Nhưng khi niềm vui nhen lên cũng là lúc nỗi buồn se lại. Mẹ qua đời năm 1987 do chứng bệnh ung bướu ruột. Đây là hậu quả của lần bị bắt ở Tây Ninh. Trong năm ngày bị giam hãm, mẹ phải hứng chịu những đòn tra tấn tàn bạo của nhà tù đế quốc Mỹ và tay sai. Về đến nhà, vừa đặt chân lên bậc thềm, mẹ ngất xỉu, trên tay vẫn còn cầm trái mít mua cho đứa con thứ tám vì mẹ biết cô rất thích loại trái này. Những ngày trên giường bệnh, mẹ cứ lo mình chết đi, sẽ không ai bầu bạn, chở che Tám Thủy, không ngớt lời dặn con giữ đạo làm người, giữ phẩm giá trong sạch của gia đình... Ngày 5/12 âm lịch, mẹ nằm xoay mặt vào tường, nói lời cuối cùng: “Để má ngủ chút nghe Tám”. Cô chạy đến, mẹ đã trút hơi thở sau cùng. Cả đời mẹ theo cách mạng, cả đời mẹ những giọt nước mắt cứ chảy thầm. Chồng con của mẹ đã sống, chiến đấu, hy sinh trong thanh thản và vô tư. Đã qua rồi một thời máu lửa, đạn bom. Trong vị ngọt của hòa bình vẫn còn đó dư vị mặn của nỗi đau mất mát, hy sinh. Mẹ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/ KTCTN ngày 17/12/1994. Mẹ và gia đình được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất năm 1994.



