Nguyễn Thị Thìn – Hà Nội. QĐND có bài viết riêng về cuộc đời và gia đình mẹ.
MẸ NGUYỄN THỊ THÌN – HAI LẦN TIỄN CON VÀ MỘT ĐỜI KHÔNG NGUÔI NHỚ
Có những nỗi đau của chiến tranh tưởng như đã được thời gian phủ lên một lớp bụi mờ, nhưng chỉ cần một kỷ vật cũ, một câu chuyện được nhắc lại, tất cả lại hiện về nguyên vẹn. Với Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thìn, ký ức ấy gắn với làng Hạnh Đàn, với chiếc khung cửi năm xưa và đặc biệt là hai người con trai Nguyễn Đạt Lư, Nguyễn Đạt Linh – những người đã lần lượt nằm lại trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Mẹ Nguyễn Thị Thìn sinh năm 1904, quê tại làng Hạnh Đàn, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông trước đây, nay thuộc địa bàn thành phố Hà Nội. Cuộc đời Mẹ là hình ảnh của một người phụ nữ nông thôn tần tảo: vừa làm ruộng, vừa dệt vải, gồng gánh nuôi các con trưởng thành. Trong mái nhà ấy, Mẹ có bốn người con. Những năm đất nước bước vào cuộc kháng chiến, các con của Mẹ lần lượt tham gia hoạt động cách mạng.
Người con cả của Mẹ là Nguyễn Đạt Lư, sinh năm 1926. Là một thanh niên có học thức và thạo tiếng Pháp, ông Lư hoạt động cách mạng bí mật, lấy nghề thợ gò thiếc ở phố Hàng Mắm làm vỏ bọc. Năm 1949, hoạt động của ông bị địch phát hiện. Ông bị bắt và đưa về bốt Phùng – nơi được người dân địa phương gọi là “đồn Tây”.
Tại đây, ông phải chịu những trận đòn roi và sự tra tấn khắc nghiệt. Nhưng trước kẻ thù, người chiến sĩ trẻ vẫn giữ vững khí tiết. Theo lời kể của gia đình được Báo Quân đội nhân dân ghi lại, trước khi hy sinh, ông Lư còn động viên đồng đội giữ vững bản lĩnh. Ông ra đi khi mới 23 tuổi.
Nhận tin con hy sinh, Mẹ Thìn không có điều kiện để đưa con về. Trong hoàn cảnh chiến tranh, giữa vùng đất còn nằm dưới sự kiểm soát của địch, Mẹ cùng người bác ruột thuê người khắc một tấm bia đá nhỏ. Rồi Mẹ tìm đến tận bốt Phùng để đánh dấu nơi con mình nằm lại.
Đó là hành động của một người mẹ vừa đau đớn vừa bất lực trước chiến tranh. Mẹ chỉ có một mong ước: nếu đất nước hòa bình, Mẹ sẽ tìm cách đưa hài cốt con trở về quê nhà.
Nhưng chiến tranh đã không cho Mẹ thực hiện được điều ấy trong những năm tháng còn lại của cuộc đời.
Chỉ một năm sau ngày người con cả hy sinh, bi kịch lại một lần nữa ập xuống gia đình.
Người con trai thứ hai của Mẹ là Nguyễn Đạt Linh, sinh năm 1929, cũng tham gia cách mạng và trở thành tiểu đội trưởng. Năm 1950, khi tuổi đời mới ngoài hai mươi, ông Linh hy sinh trong một trận càn của địch.
Điều khiến câu chuyện càng đau xót là thời điểm ấy, ông Linh chỉ còn khoảng nửa tháng nữa là lập gia đình. Mẹ đã chuẩn bị những món đồ cần thiết cho ngày cưới của con. Thế nhưng, ngày vui chưa kịp đến thì người con trai đã vĩnh viễn ra đi. Trong một trận càn ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch năm 1950, để bảo vệ đồng đội bị thương và một người liên lạc nhỏ tuổi xuống hầm trú ẩn an toàn, ông Linh là người xuống cuối cùng. Khi bị địch phát hiện, ông đã hy sinh.
Hai người con trai – hai chỗ dựa lớn nhất của gia đình – lần lượt hy sinh chỉ trong vòng một năm.
Người con gái lớn của Mẹ cũng mất sớm vì bệnh tật. Căn nhà ở Hạnh Đàn vốn đã nghèo khó, nay càng trở nên vắng lặng. Trong nhà chỉ còn hai vợ chồng già và người con gái út Nguyễn Thị Phúc.
Nhưng chiến tranh không chỉ lấy đi của Mẹ những người con. Nó còn để lại một khoảng trống không gì có thể lấp đầy.
Sau những mất mát liên tiếp, Mẹ Thìn vẫn phải tiếp tục sống. Tiếng khóc không thể làm những người con trở về. Cuộc sống vẫn cần được duy trì, và cuộc kháng chiến vẫn tiếp tục.
Mẹ lại ngồi bên khung cửi.
Tiếng thoi đưa “lách cách” lại vang lên trong căn nhà. Khi các con còn sống, Mẹ từng chắt chiu từng nắm gạo, củ khoai để các con mang theo trong những ngày hoạt động. Khi các con đã hy sinh, những gì Mẹ có được lại dành cho đồng đội của con. Những người lính trẻ tìm đến thăm gia đình, Mẹ giữ lại, chăm sóc và nhất quyết mời họ ở lại dùng bữa cơm đạm bạc. Với Mẹ, những người lính ấy như những người con còn lại của mình.
Có lẽ đó chính là cách một người mẹ tiếp tục yêu thương những người con đã mất.
Mẹ không thể ôm Nguyễn Đạt Lư và Nguyễn Đạt Linh thêm một lần nữa, nhưng Mẹ có thể chăm sóc những người đồng đội của các con. Mỗi người lính trẻ bước vào sân nhà có lẽ đều gợi cho Mẹ hình bóng của những người con đã khuất.
Nỗi đau của Mẹ còn kéo dài bởi hài cốt người con cả Nguyễn Đạt Lư không được tìm thấy trong nhiều thập kỷ. Chiến tranh qua đi, bốt Phùng xưa dần thay đổi. Những dấu tích chiến trường bị thời gian và cuộc sống mới phủ lấp. Tấm bia đá Mẹ từng đặt để đánh dấu nơi con nằm xuống cũng không còn được nhìn thấy.
Mãi đến năm 2012, tức 63 năm sau ngày ông Lư hy sinh, hài cốt của ông mới được con cháu tìm thấy dưới một vườn chuối và đưa về an táng tại nghĩa trang quê nhà. Điều mà Mẹ từng mong mỏi suốt cuộc đời cuối cùng đã được thực hiện, dù Mẹ đã qua đời từ năm 1988.
Tháng 12 năm 2016, Nhà nước truy tặng Mẹ Nguyễn Thị Thìn danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Danh hiệu ấy là sự ghi nhận đối với những hy sinh, mất mát của Mẹ và gia đình trong những năm tháng chiến tranh.
Nhưng có lẽ, đối với Mẹ, những tấm bằng hay danh hiệu không thể nào sánh được với một điều giản dị hơn: được biết các con mình đã có một nơi để trở về.
Mẹ Nguyễn Thị Thìn qua đời năm 1988. Mẹ đã mang theo rất nhiều ký ức của một thời chiến tranh, nhưng câu chuyện về Mẹ vẫn còn được người thân và quê hương gìn giữ.
Ngày nay, khi nhắc đến Mẹ, người ta không chỉ nhớ một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng của Hà Nội. Người ta nhớ đến một người phụ nữ đã chịu đựng hai lần mất con, một người mẹ từng lặn lội đến tận nơi con hy sinh để đặt một tấm bia nhỏ, rồi kiên nhẫn chờ đợi ngày hài cốt con được trở về.
Chiến tranh đã đi qua. Những bốt đồn năm xưa không còn, những cánh đồng đã đổi thay, những thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình. Nhưng câu chuyện của Mẹ Nguyễn Thị Thìn vẫn nhắc chúng ta rằng phía sau mỗi người lính hy sinh là một gia đình đã mất đi một phần máu thịt của mình.
Và phía sau những trang sử hào hùng của dân tộc là những người mẹ âm thầm chịu đựng nỗi đau không thể gọi thành lời.
Mẹ Thìn đã dành cả cuộc đời cho gia đình, cho quê hương và cho những người con đã ra đi vì đất nước. Hình ảnh người mẹ bên khung cửi, những nắm gạo dành cho đồng đội của con và tấm bia đá được khắc vội giữa thời chiến sẽ mãi là những ký ức giản dị nhưng lay động về một thế hệ người mẹ Việt Nam.
Để hôm nay, trong những ngày đất nước thanh bình, chúng ta càng hiểu rằng hòa bình không chỉ được viết bằng những chiến công nơi chiến trường, mà còn được viết bằng nước mắt của những người mẹ ở lại.



