"Nguyễn Thị Thứ-Ngọn lửa và trái tim người mẹ"
một bản hùng ca đầy xúc động về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ — biểu tượng bất diệt của sự hy sinh và lòng yêu nước. Sự hy sinh vô song: Cuộc đời mẹ là một chuỗi những mất mát không gì bù đắp nổi khi lần lượt tiễn biệt 9 người con trai, 1 con rể và 2 cháu ngoại hy sinh trong hai cuộc kháng chiến. Đặc biệt, người con cả hy sinh chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước thống nhất. Hậu phương vững chắc: Không chỉ hiến dâng những người thân yêu, mẹ còn trực tiếp tham gia cách mạng bằng cách đ

Trong dòng chảy khốc liệt mà hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người không trực tiếp cầm súng nơi chiến trường nhưng lại mang trong tim một sự hy sinh lớn lao không gì có thể đo đếm. Một trong những biểu tượng thiêng liêng ấy chính là Nguyễn Thị Thứ – người mẹ đã hiến dâng gần như tất cả những gì mình có cho Tổ quốc, để lại phía sau một cuộc đời thấm đẫm nước mắt, nhưng cũng rực sáng tình yêu nước và đức hy sinh.
Cuộc đời của Nguyễn Thị Thứ - nơi nỗi đau riêng của một người mẹ hòa vào nỗi đau chung của cả dân tộc trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Mẹ sinh tại xóm Rừng, thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng) . Lớn lên giữa cảnh nghèo khó, mẹ sớm quen với ruộng đồng, với cái nắng cháy da của miền Trung và những mùa mưa dầm triền miên. Cuộc đời mẹ tưởng chừng sẽ trôi qua bình lặng như bao người phụ nữ nông thôn khác: lấy chồng, sinh con, chăm lo gia đình. Nhưng lịch sử đã chọn mẹ, đặt lên vai mẹ một số phận đặc biệt – số phận của một người mẹ có sự hy sinh lớn lao bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.
Gia đình mẹ Thứ có đến 12 người con, trong đó có 9 người con trai và 1 người con gái và 2 cháu ngoại .Con đầu và cũng là con gái duy nhất- bà Lê Thị Trị là thương binh cũng được trao danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi có chồng và 2 con là liệt sĩ. Một mái ấm đông đúc, từng là niềm tự hào và là chỗ dựa tinh thần của mẹ. Những đứa con của mẹ lớn lên trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, chiến tranh liên miên. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc trong họ lòng yêu nước mãnh liệt. Từng người con trai của mẹ khi trưởng thành đều lần lượt tham gia kháng chiến, từ chống thực dân Pháp đến chống đế quốc Mỹ. Không chỉ các con trai, mà cả con rể của mẹ cũng ra trận. Ngôi nhà nhỏ ngày nào đầy ắp tiếng cười dần trở nên vắng lặng khi từng người con khoác ba lô lên đường, mang theo lời dặn của mẹ: “Vì nước mà đi, đừng nghĩ đến riêng mình”.
Thời chiến, vợ chồng mẹ Thứ cùng người con gái đầu bám trụ xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ. Hằng đêm, mẹ để ngọn đèn dầu sáng trên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Vườn nhà mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc ăn toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc,... Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường.
Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ mẹ Thứ lần lượt nhận được 9 giấy báo tử của 9 người con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại đã hi sinh. Ngày 18/6/1948, anh Lê Tự Xuyến- chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Nửa tháng sau, ngày 15/10/1948, con trai Lê Tự Hàn (anh) - anh hi sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. Mười ngày sau, con trai Lê Tự Hàn (em) ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hi sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4 năm 1954. Trong vòng 6 năm, mẹ thứ đã mất đi 5 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường. Tháng 9/ 1966, con trai Lê Tự Nự hi sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh- đại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Con trai cả Lê Tự Chuyên - chiến sĩ Biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30/4/1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ đất nước thống nhất. Con rể của mẹ là Ngô Tường (chồng của mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Trị) bị giặc Mỹ bắt, bị tra tấn cho đến lúc hi sinh, được công nhận là liệt sĩ. Mẹ Thứ còn có 2 cháu ngoại (con gái của mẹ Trị) là Ngô Thị Điểu bị giặc Mỹ bắt trả hỏi, hy sinh tháng 8/1970 và Ngô Thị Cúc hy sinh trong lần công tác vào vùng địch hậu năm 1973.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Những tấm giấy báo tử lần lượt được gửi về, mỗi lần như một nhát dao cứa vào lòng mẹ. Người ta khó có thể tưởng tượng nổi cảm giác của một người mẹ khi mất đi gần như tất cả những đứa con của mình. Nhưng điều khiến cả dân tộc phải cúi đầu kính phục chính là cách mẹ đối diện với nỗi đau ấy. Mẹ không gục ngã. Mẹ lặng lẽ khóc trong những đêm dài, rồi sáng hôm sau lại tiếp tục công việc đồng áng như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Mỗi lần tiễn con ra trận, mẹ đều nén nước mắt, động viên con giữ vững tinh thần chiến đấu. Khi nhận tin con hy sinh, mẹ đau đớn nhưng vẫn tự nhủ rằng đó là sự hy sinh vì Tổ quốc – một sự hy sinh cao cả.
Có những lúc, mẹ đứng trước bàn thờ với hàng loạt di ảnh của các con, khói hương nghi ngút, ánh mắt xa xăm như đang nhìn về những chiến trường nơi con mình đã ngã xuống. Nỗi đau ấy không thể diễn tả bằng lời, nhưng lại trở thành biểu tượng của sức mạnh tinh thần phi thường. Mẹ không chỉ là mẹ của những người con đã khuất, mà còn là mẹ của cả dân tộc – biểu tượng của sự hy sinh, của lòng yêu nước và của đức kiên cường.
Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, chiến tranh kết thúc nhưng những mất mát của mẹ vẫn còn nguyên đó. Mẹ trở về với cuộc sống đời thường, nhà mẹ Thứ đơn sơ, yên bình. Trên tường nhà treo 12 bằng tổ quốc ghi công và trên bàn thờ hương khói của 9 người con trai mẹ Thứ. Mẹ Thứ bên mâm có 9 cái bát, 9 đôi đũa dành cho 9 người con của mẹ đã hy sinh. Những năm tháng sau này, mẹ sống trong sự quan tâm của chính quyền và nhân dân. Năm 1994, mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Mẹ Việt Nam anh hùng”. Đây không chỉ là sự ghi nhận cho riêng mẹ, mà còn là sự tri ân đối với tất cả những người mẹ Việt Nam đã hy sinh con mình cho đất nước.
Mẹ trở thành nhân vật được nhiều người biết đến, nhiều đoàn cán bộ, học sinh, chiến sĩ tìm về thăm hỏi. Họ đến không chỉ để tri ân, mà còn để lắng nghe câu chuyện cuộc đời mẹ – một câu chuyện khiến bất kỳ ai cũng phải nghẹn ngào. Dù vậy, cuộc sống của mẹ vẫn giản dị như thuở nào. Mẹ không đòi hỏi gì cho bản thân, chỉ mong đất nước hòa bình, nhân dân no ấm.
Sau này, sống trong sự chăm sóc của con gái và chính quyền địa phương. Dẫu tuổi cao sức yếu, mẹ vẫn giữ được sự minh mẫn và đức tính hiền hậu. Đôi khi, mẹ ngồi lặng lẽ trước hiên nhà, ánh mắt xa xăm, như vẫn đang dõi theo bóng dáng những đứa con đã khuất. Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà, sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10/12/2010. Sự ra đi của mẹ là một mất mát lớn, nhưng cũng là sự khép lại của một cuộc đời đã hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc.
Từ cuộc đời của mẹ Nguyễn Thị Thứ, ta nhận ra rằng lòng yêu nước không chỉ thể hiện nơi chiến trường, mà còn hiện diện trong những hy sinh thầm lặng nơi hậu phương. Mẹ không cầm súng, nhưng đã góp phần làm nên chiến thắng bằng cách dâng hiến những người con yêu quý nhất. Đó là một sự hy sinh vượt lên trên mọi giới hạn của con người.
Hình ảnh của mẹ cũng khiến ta hiểu sâu sắc hơn về tình mẫu tử. Một người mẹ bình thường sẽ mong con ở bên mình, nhưng mẹ Nguyễn Thị Thứ lại chấp nhận để con ra đi, dù biết có thể không bao giờ trở lại. Tình yêu ấy không nhỏ bé, không ích kỷ, mà lớn lao, bao trùm cả tình yêu quê hương đất nước.
Và cuối cùng, cuộc đời mẹ là lời nhắc nhở sâu sắc đối với thế hệ hôm nay. Hòa bình mà chúng ta đang có được đánh đổi bằng biết bao máu xương, nước mắt. Vì vậy, mỗi người cần sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng quá khứ, và cố gắng xây dựng tương lai xứng đáng với những hy sinh to lớn ấy. Hình ảnh mẹ Nguyễn Thị Thứ sẽ mãi là ngọn lửa âm thầm cháy trong lòng dân tộc Việt Nam, soi sáng con đường của những thế hệ mai sau.



