Khác

Nguyễn Thiếp

đặng văn kiên

Hà Tĩnh25/08/2026xã Hải Hưng (Xã Hải Hưng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đó chính là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804). Ông sinh ngày 24-9-1723, mất ngày 6-2-1804, quê làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 21 tuổi (1743), Nguyễn Thiếp thi đỗ Hương Cống nên được bổ làm Huấn Đạo rồi thăng Tri Huyện Thanh Chương (Nghệ An). Tuy chỉ đỗ Hương Cống nhưng Nguyễn Thiếp nổi tiếng là một danh sĩ tài cao, đức trọng. Ra làm quan giữa thời buổi nhiễu nhương, với cảnh tượng "chúa ác, vua hèn", giặc giã liên miên, càng ngày Nguyễn Thiếp càng chán ngán. Ông tâm sự: Nghĩa còn, đỉnh hoạc thơm tho/ Đạo suy, ẩn với giang hồ cũng thanh.

Năm 1786, Nguyễn Thiếp quyết định rũ áo, từ quan, lên núi Thiên Nhẫn lập trại và bắt đầu sống cuộc đời ẩn cư với danh hiệu La Sơn Phu Tử. Mặc dù là một "ẩn sĩ" nhưng uy danh của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vẫn lan tỏa khắp cả nước. Ông nổi tiếng là người đạo hạnh thanh cao, có trình độ uyên bác. Cả nước hâm mộ tôn ông là bậc thầy. Ông cũng là con người cao sĩ, sống ẩn dật. Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp.

Ngoài danh hiệu La Sơn phu tử, người ta còn gọi ông là Lạp Phong cư sĩ, hoặc gọi là ông Lục Niên (vì ông ẩn dật ở thành Lục Niên). Năm 1775, Trần Văn Kỷ, một cận thần của Nguyễn Huệ - Quang Trung ra Thăng Long để chiêu mộ sĩ phu Bắc Hà về với nhà Tây Sơn. Khi Trần hỏi Nguyễn Nghiễm, một bậc nguyên lão khả kính về nhân tài của đất Việt thì được trả lời: "Đạo học sâu xa thì Lạp Phong Cư Sỹ, văn phong phép tắc thì Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, còn thiếu niên đa tài đa nghệ chỉ có Nguyễn Huy Tự". Nhân vật mà "đạo học sâu xa", có danh hiệu Lạp Phong Cư Sỹ chính là Nguyễn Thiếp, người đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp của nhà Tây Sơn . Trần Văn Kỷ đã tiến cử La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp với Nguyễn Huệ. Năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra Thăng Long thực hiện kế hoạch "Phù Lê, diệt Trịnh". Ông được vua Lê phong làm Đại nguyên soái Phù chinh dực vũ Uy quốc công. Với mục đích thu phục nhân tâm, nhất là tầng lớp sĩ phu Bắc Hà, Nguyễn Huệ đã sử dụng Trần Văn Kỷ trong vai trò "tham mưu", làm cầu nối.

Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp. Sử sách ghi rõ những lần mà vua Quang Trung cho mời ông phò tá: Năm 1786, nghĩa quân Tây Sơn, hạ thành Phú Xuân, lật đổ chúa Nguyễn, sau đó kéo quân ra Thăng Long tiêu diệt chúa Trịnh, khôi phục nhà Lê. Năm 1789, đại quân Tây Sơn đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, giành lại non sông gấm vóc. Trong sự nghiệp chính trị của mình Nguyễn Huệ - Quang Trung rất trọng dụng những nhân tài Nho sĩ. Một số Nho Sĩ thức thời như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Trần Văn Kỷ... đã đứng về phía cộng tác tích cực với Tây Sơn. Trong khi đó phần đông các Nho sĩ Bắc Hà vẫn giữ tư tưởng thủ cựu trung với nhà Lê, chống lại Tây Sơn, hoặc lánh đi ẩn dật như Nguyễn Thiếp.

Vốn được nghe danh Nguyễn Thiếp từ trước, Nguyễn Huệ đã ba lần viết thư mời Phu tử xuống núi cùng hợp tác. Thư mời lần thứ nhất ngày 18, tháng 12, năm Thái Đức thứ 9 (1786).

Nguyễn Thiếp viết thư trả lời ngày mồng 9, tháng Giêng, năm Cảnh Hưng thứ 48 (1787), vin vào ba lý do để từ chối lời mời của Nguyễn Huệ; trong thư có viết: “Trộm nghĩ Tiện sinh này tính chất ngu lậu; tài năng, học thuật không có gì hơn người. Chỉ vì có nhiều bệnh, trộm gửi thân ở chốn lâm tuyền. Bình sinh chỉ giảng tập các sách Tứ thư: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử. Còn nhâm, độn, thao, lược, binh pháp, võ nghệ đều chưa học. Quý quốc ở xa, mới nghe tiếng đồn về Tiện sỹ, còn lẽ bởi đâu và thế nào, sợ chưa biết hết sự thực…

Đạo thư mời, năm nén vàng, hai tấm lụa, tôi nhất thiết không dám nhận, xin kính cẩn gửi cho ông Phan Khải Đức (học trò của cụ) đưa giả y nguyên”.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn