Người có công giúp đỡ cách mạng

Nguyễn Thông

Tây Ninh25/04/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Thông – tên chữ là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên, biệt hiệu là Độn Am – sinh ngày 28 tháng 5 năm Đinh Hợi (1827), tại thôn Bình Thanh, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay là tỉnh Long An), mất năm Giáp Thân (1884), chôn ở núi Ngọc Sơn, xã Ngọc Lam, phủ Hàm Thuận (nay là thành phố Phan Thiết).

Thân phụ là Nguyễn Hanh, người Tân Thạnh (tỉnh Gia Định), kết hôn cùng bà Trịnh Thị A Mầu, nguyên quán ở Thừa Thiên, sinh hạ được hai trai là Nguyễn Thông và Nguyễn Hài.

Anh em hơn kém nhau hai tuổi, cùng học với cha ở nhà từ bé. Năm Nguyễn Thông mười tuổi thì mẹ mất, mười bảy tuổi thì cha mất.

Gia đình gặp cảnh khó khăn, Nguyễn Thông phải lao động để giúp đỡ gia đình.

Rất ham học nhưng không có thầy, Nguyễn Thông đành phải cùng em tự học. Sau may mắn được học với ông Nguyễn Nhữ Hiền một thời gian ngắn (ông này được bổ đến Tân An không bao lâu lại trở về kinh).

Khoa 1849 (năm Kỷ Dậu, triều Tự Đức), Nguyễn Thông đỗ cử nhân và thi Hội bị đánh hỏng vì tập bài thi bị lấm mực. Đọc bài thi, vì thấy văn tài của Nguyễn Thông, nhiều người khuyên nên tiếp tục học để thi khoa sau. Nhưng nhà nghèo không thể tiếp tục ngồi học, Nguyễn Thông nhận chức huấn đạo tại Phú Phong, tỉnh An Giang.

Sáu năm sau, năm 1855, ông ra Huế, làm việc ở nội các, tham dự soạn sách Nhân sự kim giám (gương vàng soi việc người).

Năm 1859, quân Pháp đánh thành Gia Định, Nguyễn Thông tình nguyện tòng quân và đã giúp việc đắc lực cho Thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp.

Năm 1861, đại đồn Chí Hòa bị mất, kế đến tỉnh Biên Hòa bị chiếm, cậu ông là Trịnh Quang Nghi (có chiến đấu ở trận Chí Hòa) và bạn ông là Phan Văn Đạt mộ nghĩa binh chống quân Pháp ở Tân An và Gò Công. Ông tham gia phong trào ấy, may được thoát nạn. Phan Văn Đạt bị bắt giết. Còn Trịnh Quang Nghi qua năm sau giúp Trương Định rất đắc lực trong chức Tham tán quân vụ.

Năm 1862, ba tỉnh miền Đông phải nhượng cho Pháp. Nhờ cụ Phan Thanh Giản đề cử, Nguyễn Thông được bổ làm Đốc học Vĩnh Long. Về Vĩnh Long, ông vẫn liên lạc với cậu mình (Trịnh Quang Nghị), vui buồn với cuộc chiến đấu của Trương Định, đồng thời liên lạc với các sĩ phu yêu nước, trong đó có những sĩ phu dời gia đình từ miền Đông sang. Những điều nghe thấy lúc này giúp ông dễ dàng viết lưu lại cho đời mấy bài ký về Phan Văn Đạt, Trương Định, Hồ Huân Nghiệp trong “Kỳ Xuyên văn sao”.

Riêng đối với địa phương Vĩnh Long, Nguyễn Thông đã lưu lại những dấu ấn đậm đà, quý báu. Ông chủ động thực hiện bằng được việc xây dựng Văn Thánh miếu dự trù từ nhiều năm trước. Cạnh Văn Thánh miếu có dựng lầu Tụy Văn làm nơi chứa sách và học tập. Ông lại cùng Phan Thanh Giản khởi xướng việc dời mộ nhà giáo dục nổi tiếng ở Lục tỉnh là Võ Trường Toản từ Chí Hoà đưa cải táng về Bảo Thạnh (Ba Tri, Bến Tre này nay) vì lẽ đức nghiệp của ông thầy chung không để cho quân địch làm ô uế.

Sau này, Tụy Văn lâu đổi tên là Văn Xương các và biến thành nơi thờ cụ Võ Trường Toản cùng các công thần khác.

Về tác phẩm, Nguyễn Thông còn lưu lại mấy bài thơ lên quan đến Vĩnh Long, đáng xem là những viên ngọc trong kho tàng văn học địa phương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn