Bài viết

NGUYỄN THƯỢNG HIỀN – BẬC SĨ PHU TỪ BỎ VINH HOA, TRỌN ĐỜI VÌ NƯỚC

Quảng Ninh25/12/2025Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Thượng Hiền, tự Đỉnh Nam, Đỉnh Thần, hiệu Mai Sơn, sinh năm 1866 trong một gia đình phong kiến quý tộc tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa (nay thuộc Hà Nội). Từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, hiếu học, sớm bộc lộ tư chất của một bậc đại khoa.

Năm 19 tuổi (1884), Nguyễn Thượng Hiền đỗ Cử nhân. Dù đỗ đạt sớm, ông lại rời nhà đi tu, thể hiện tâm thế chán ghét con đường danh lợi. Sau khi người anh mất sớm, gia đình buộc ông trở về lập gia đình; ông kết duyên với con gái của Tôn Thất Thuyết, một nhân vật quan trọng của phong trào Cần Vương.

Năm 1885, ông trúng cách kỳ thi Hội, nhưng do kinh thành Huế thất thủ nên chưa được chính thức công nhận. Đến khoa Nhâm Thìn (1892), ông vào thi Đình và đỗ Hoàng giáp khi mới 27 tuổi – một trong những người đỗ cao nhất thời bấy giờ.

Tuy nhiên, trước cảnh đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, Nguyễn Thượng Hiền đau xót và khước từ con đường làm quan. Ông dâng sớ xin nghỉ để đọc sách, tu dưỡng và suy ngẫm con đường cứu nước. Sau thời gian bị triều đình buộc phải ra làm việc tại Quốc sử quán rồi làm Đốc học Nam Định – Ninh Bình, ông tiếp xúc với nhiều tân thư của Trung Quốc, hấp thụ tư tưởng cải cách, canh tân đất nước.

Ông sớm kết giao với các chí sĩ yêu nước như Nguyễn Lộ Trạch, Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, từ đó dấn thân vào con đường cách mạng. Không chịu hợp tác với chính quyền bảo hộ, ông từ quan, về núi Nưa (Thanh Hóa) sống ẩn dật.

Năm 1907, sau khi thân phụ qua đời, Nguyễn Thượng Hiền tìm đường xuất dương hoạt động cách mạng. Ông tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ và bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt. Năm 1908, ông sang Trung Quốc gặp Phan Bội Châu, trở thành một trong những trụ cột của phong trào yêu nước hải ngoại.

Năm 1912, khi Việt Nam Quang Phục hội được thành lập, Nguyễn Thượng Hiền tán thành chủ trương từ bỏ quân chủ, được cử làm đại biểu Bắc Kỳ trong Bộ Bình nghị. Từ năm 1914, khi Phan Bội Châu bị bắt, ông gánh vác phần lớn công việc lãnh đạo Hội, trực tiếp chỉ huy một cánh quân tiến công Lạng Sơn, dù kế hoạch không thành công.

Bị thực dân Pháp truy lùng gắt gao, Nguyễn Thượng Hiền phải bôn ba khắp Trung Quốc và Xiêm La, vừa hoạt động cách mạng, vừa tìm nguồn viện trợ mua vũ khí chống Pháp. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào lâm vào thoái trào. Năm 1925, khi Phan Bội Châu bị bắt, ông đau đớn, nản chí, lui về tu hành tại một ngôi chùa ở Hàng Châu.

Nguyễn Thượng Hiền không chỉ là một nhà cách mạng mà còn là nhà văn, nhà thơ lớn của đầu thế kỷ XX. Văn thơ ông chan chứa lòng yêu nước, lên án quân xâm lược, ca ngợi những người hy sinh vì dân tộc, kêu gọi mở mang công thương, giáo dục để chấn hưng đất nước. Thơ văn của ông thể hiện rõ khí phách bất khuất của một trí thức không chịu cúi đầu trước ngoại bang.

Cuộc đời lưu vong, bệnh tật và nỗi đau mất nước khiến sức khỏe ông ngày càng suy kiệt. Ngày 28 tháng 12 năm 1925, Nguyễn Thượng Hiền qua đời tại chùa Thường Tịch Quang, núi Cô Sơn, Hàng Châu, hưởng thọ 57 tuổi. Theo di chúc, tro cốt của ông được rắc xuống sông Tiền Đường – như gửi trọn linh hồn người chí sĩ vào dòng chảy lịch sử.

Nguyễn Thượng Hiền là hình ảnh tiêu biểu của lớp sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX: đỗ đạt cao nhưng khinh danh lợi, sống trọn đời cho lý tưởng độc lập dân tộc, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử và văn học Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn