NGUYỄN TIẾN CHẾ (1905 - 1995)
Đồng chí Nguyễn Tiến Chế tên thật là Nguyễn Giám sinh ngày 03 tháng 5 năm 1905, tại làng Tịnh Tây xã Tam Nghĩa, nay thuộc thôn Tịch Tây, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, giữa lúc đất nước đang chìm trong đêm dài nô lệ, đồng chí đã chứng kiến bao cảnh tủi nhục của người dân mất nước. Được các đồng chí đàn anh dìu dắt, Nguyễn Tiến Chế đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935.
Với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, bất chấp hiểm nguy, tích cực tham gia hoạt động cách mạng, ngày 20 tháng 11 năm 1937, đồng chí vinh dự được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1937, đồng chí Nguyễn Sắc Kim thành lập Chi bộ Tịch Tây gồm bốn đồng chí và cử đồng chí Nguyến Tiến Chế làm Bí thư.
Đầu năm 1941, sau khi hội nghị Tỉnh ủy ở Chùa Hang bị lộ, địch bắt một số đồng chí của ta và phát hiện được cơ quan Tỉnh ủy đang đóng ở cánh Nam Tam Kỳ và nhất là chúng đã nắm được danh sách các Tỉnh ủy viên. Chúng giăng lưới bủa vây, lùng sục khắp các làng, xã nhất là Tịch Tây, An Tân….Trong cuộc bố ráp này, chúng bắt được đồng chí Nguyễn Tiến Chế và truy nã ráo riết hai đồng chí Võ Toàn và Nguyễn Sắc Kim. Sau khi bị bắt, đồng chí bị đưa về nhà lao Hội An. Trong nhà tù, trước sự tra tấn dã man của kẻ thù nhưng với ý chí cách mạng kiên cường đồng chí đã giữ vững phẩm chất, khí tiết của người cộng sản, ngày đêm suy nghĩ làm sao thoát khỏi ngục tù để sớm trở về hoạt động cách mạng.
Tháng 01 năm 1941, đồng chí Nguyễn Tiến Chế bị đày đi Buôn Ma Thuột[1]. Ngay khi vừa đến nhà ngục, nơi đây vừa xảy ra các cuộc đấu tranh chống đi làm ngày chủ nhật, chống cai ngục bớt khẩu phần ăn và cắt phần báo chí của tù nhân…. Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt của anh em tù nhân, địch buộc phải tăng khẩu phần ăn và báo chí cũng được cung cấp đầy đủ hơn trước.
Tháng 02 năm 1944, sau khi mãn hạn tù lưu đày tại Buôn Ma Thuột, hai đồng chí Trần Văn Quế và Nguyễn Tiến Chế bị địch đưa đi an trí tại Phú Bài (Thừa Thiên Huế). Được sự bố trí của Chi bộ nhà lao Buôn Ma Thuột, trên đường giải ra Phú Bài, các đồng chí đã nhảy tàu thành công và trở về địa phương hoạt động. Tên Nguyễn Tiến Chế được đồng chí dùng chính thức từ đây.
Sau một tuần lẩn tránh tìm đường về đến Tịch Tây (Tam Nghĩa), hai đồng chí đã bắt liên lạc với đồng chí Bốn Phiên (Nguyễn Thị Lan, bí danh Hằng), đảng viên Chi bộ Tịch Tây còn lại sau vụ bể vỡ cuối năm 1943. Nhờ sự cộng tác đắc lực của các đồng chí Nguyễn Hữu Hồ và Nguyễn Hợi, hai đồng chí Trần Văn Quế và Nguyễn Tiến Chế đã nhanh chóng móc nối với một số đảng viên và quần chúng cách mạng còn lại ở các xã Diêm Trường, Nghi Xuân, Tịch Tây, Vân Trai, Thọ Khương... Vừa lo xây dựng cơ sở nơi đứng chân, các đồng chí vừa hình thành ngay cơ quan lãnh đạo với danh nghĩa Ban vận động cứu quốc gồm các đồng chí: Trần Văn Quế, Nguyễn Tiến Chế, Nguyễn Hữu Hồ, Nguyễn Minh... do đồng chí Quế phụ trách; đồng chí Nguyễn Tiến Chế phụ trách xây dựng tổ chức Đảng và xây dựng phong trào cách mạng phía nam của tỉnh, bắt liên lạc với Quảng Ngãi để bố trí cho một số tù chính trị Ba Tơ thoát ly ra Quảng Nam hoạt động; các đồng chí khác lo xây dựng tổ chức quần chúng.
Sau khi xây dựng cơ sở Đảng và quần chúng ở một số xã phía Nam phủ Tam Kỳ tương đối vững chắc, đồng chí Nguyễn Tiến Chế và Trần Văn Quế được sự giúp đỡ của các đồng chí trong Liên Tổng ủy An Hoà - Đức Hoà đã nhanh chóng bắt liên lạc với các phủ, huyện phía Bắc (theo sự giới thiệu từ trước của đồng chí Võ Toàn ở trong nhà lao). Đến tháng 4 năm 1944, một cuộc hội nghị được tổ chức tại chùa Kim Bồng, Hội An, hội nghị đã quyết định thành lập lại Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam gồm 3 đồng chí: Trần Văn Quế, Nguyễn Tiến Chế, Nguyễn Tấn Ưng do Trần Văn Quế làm Bí thư Tỉnh ủy. Tỉnh ủy đặt cơ quan tại Diêm Trường, nay thuộc xã Tam Giang, huyện Núi Thành và Kim Bồng, Hội An. Hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách của Tỉnh ủy lúc này là nhanh chóng móc nối liên hệ với các phủ, huyện xây dựng lại hệ thống tổ chức Đảng và các đoàn thể, bắt liên lạc với Quảng Ngãi và tìm cách liên lạc với cấp trên tiếp tục ra tờ báo Cờ độc lập số 11 và in một số tài liệu mật để tuyên truyền.
Cuối tháng 02 năm 1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cử đồng chí Trần Quý Hai ra Quảng Nam gặp đồng chí Nguyễn Tiến Chế cùng đồng chí Trần Văn Quế họp bàn đặt mối liên lạc giữa hai tỉnh và đi đến thành lập Ban Liên tỉnh Nam - Ngãi gồm Trần Văn Quế, Nguyễn Tiến Chế, Trần Quý Hai, Trương Quang Giao, Nguyễn Đôn. Lúc này, hai tỉnh vẫn chưa liên lạc được với Xứ ủy và Trung ương, anh em bàn nhau quyết định gấp rút cử người đi tìm, bắt liên lạc với xứ ủy và Trung ương. Tỉnh ủy Quảng Ngãi cử đồng chí Trần Huy, Tỉnh ủy Quảng Nam cử đồng chí Nguyễn Tiến Chế ra Thanh Hoá và miền Bắc tìm mối bắt liên lạc.
Tháng 5 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời quyết định triệu tập cuộc họp trên một chiếc thuyền tại bến đò Ông Đốc (Đại Lộc) trên sông Thu Bồn, bàn một số việc quan trọng: Gấp rút đẩy mạnh phong trào trong toàn tỉnh thành cao trào, chống các luận điểm sai trái, giả hiệu của Nhật, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang. Hội nghị quyết định bổ sung thêm một số đồng chí vừa ở tù ra vào Tỉnh ủy và phân công lại các đồng chí phụ trách các vùng; đồng chí Nguyễn Tiến Chế được phân công phụ trách Quế Sơn.
Sau đó, tại hội nghị ngày 13 và 14 tháng 8 năm 1945, Tỉnh ủy quyết định phát động toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và quyết định thành lập Ủy Ban bạo động giành chính quyền, đồng chí Nguyễn Tiến Chế được bầu vào Ủy Ban bạo động.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, theo quyết định của Tỉnh ủy, ngày 07 tháng 11 năm 1945, Huyện ủy lâm thời Thăng Bình được thành lập, đồng chí Nguyễn Tiến Chế được Tỉnh ủy phân công làm Phó Bí thư Huyện ủy Thăng Bình. Cuối tháng 6 năm 1946, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ nhất họp tại cơ quan Huyện ủy đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ do đồng chí Hồ Thuật làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Tiến Chế làm Phó Bí thư. Tháng 9 năm 1946, đồng chí Hồ Thuật qua đời, đồng chí Nguyễn Tiến Chế được cử làm Bí thư Huyện ủy.
Năm 1949, đồng chí được Đảng điều về Ban Tổ chức Tỉnh ủy phân công làm Trưởng đoàn xây dựng chi bộ. Năm 1952, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, Bí thư Nông hội tỉnh rồi làm Phó Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy.
Đầu tháng 12 năm 1954, sau khi hai đồng chí Võ Truyền, Ngô Tấn Tâm (Ngô Thanh Dũng) tập kết ra Bắc, Thăng Bình là một trong những địa phương mà phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn nên Tỉnh ủy chỉ định đồng chí Nguyễn Tiến Chế về chỉ đạo rồi trực tiếp làm Bí thư Huyện uỷ Thăng Bình. Với cương vị và trách nhiệm này, trong bối cảnh tình hình hết sức phức tạp, một lần nữa đồng chí đã tỏ rõ là một cán bộ kiên trung, dày dạn trong đấu tranh cách mạng, đưa phong trào cách mạng huyện Thăng Bình vượt qua những thử thách, nhất là sau vụ địch đàn áp dã man tại Chợ Được.
Ngày 06 tháng 6 năm 1955, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra tuyên bố đòi chính quyền Sài Gòn mở hội nghị Hiệp thương để bàn việc tổ chức Tổng tuyển cử vào tháng 7 năm sau. Trong tháng 7 năm 1955, Tỉnh ủy mở hội nghị để bàn biện pháp thực hiện chủ trương trên, đồng thời bầu bổ sung đồng chí Nguyễn Tiến Chế cùng đồng chí Vũ Trọng Hoàng và Đỗ Duy Tư (Đỗ Quang Thắng) vào Tỉnh ủy.
Sau hội nghị Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Tiến Chế trở lại Thăng Bình, đã tổ chức cuộc họp Huyện ủy tại xã Bình Dương, huyện Thăng Bình truyền đạt chủ trương của Tỉnh ủy về vận động cuộc đấu tranh rộng lớn trong toàn tỉnh hưởng ứng tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và bàn những biện pháp phát triển cách mạng.
Từ năm 1957 đến năm 1960, đồng chí được Tỉnh ủy phân công tham gia phụ trách huyện Tam Kỳ. Năm 1960 đến năm 1963, đồng chí được Đảng cho ra miền Bắc học tập chính trị và văn hoá. Tháng 3 năm 1964, đồng chí được phân công trở về Nam công tác tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam. Tháng 3 năm 1966, được Khu ủy điều về làm Ủy viên Ban Tổ chức Khu 5, chuyên viên 4 Ban Tổ chức Trung ương. Tháng 11 năm 1969 đến tháng 9 năm 1970, đồng chí được Đảng cho ra Bắc chữa bệnh.
Cuối năm 1970, do tuổi cao sức yếu đồng chí được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu tại thành phố Hà Nội. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí về nghỉ tại quê hương. Sau một thời gian lâm bệnh, do tuổi cao sức yếu mặc dù được các y bác sĩ bệnh viện C Đà Nẵng tận tình cứu chữa và gia đình hết lòng chăm sóc nhưng đồng chí đã vĩnh biệt chúng ta vào hồi 15 giờ ngày 02 tháng 02 năm 1995, hưởng thọ 91 tuổi.
Đồng chí Nguyễn Tiến Chế đã sớm giác ngộ cách mạng, được Đảng giáo dục và nhân dân tin yêu giúp đỡ, qua rèn luyện thử thách trong các giai đoạn đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ của dân tộc, lúc bí mật, lúc công khai, lúc bị kẻ thù giam cầm tra tấn. Trong suốt cuộc đời, sống, chiến đấu đồng chí luôn là người chiến sỹ cộng sản kiên trung, vững vàng trong mọi tình huống và cho đến giờ phút cuối cùng trước khi nhắm mắt đồng chí vẫn tỏ rõ tinh thần lạc quan cách mạng, một lòng tin tưởng vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội. Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đồng chí đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhì; Hai huân chương Kháng chiến hạng Hai; Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Hai Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Đồng chí mất đi là một tổn thất chung đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Nam. Tinh thần bất khuất, kiên trung, cả cuộc đời phấn đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, đức tính khiêm tốn, giản dị trong cuộc sống, tinh thần lạc quan cách mạng của đồng chí sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho mỗi chúng ta noi theo.
[1] Trong đoàn bị đày lúc này còn có các đồng chí: Trần Văn Quế, Nguyễn Hội, Nguyễn Ngọc Anh, Bùi Thuyên, Nguyễn Cán, Trần Khoa, Nguyễn Tâm, Ngô Quyền và Nguyễn Đình Phước.



