Người có công giúp đỡ cách mạng

Nguyễn Tiến Túc - Ký ức đời lính

Lào Cai28/12/2025PHÙNG THỪA PHÚ (Xã Võ Lao)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Tiến Túc – câu chuyện đời lính của tôi

Tôi tên là Nguyễn Tiến Túc, sinh năm 1949, sinh ra và lớn lên ở miền núi thôn Chiềng 3, xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai. Quê tôi ngày ấy gắn liền với tuổi thơ tôi là những con trâu. Bà con quanh xóm sống dựa vào nương rẫy, bữa cơm có khi chỉ là bát cơm độn sắn với rau rừng.Tuổi trẻ của chúng tôi lớn lên với những cánh đồng lúa cùng tiếng trống gọi dân quân khi nơi tiền tuyến đang cần trợ giúp, tôi nhận ra rằng: khi đất nước còn chiến tranh, trong lòng tôi lúc nào cũng nung nấu một điều: đến lượt mình, mình phải đi. Năm 1966, khi vừa tròn 17 tuổi, tôi nhận được lệnh gọi đi nghĩa vụ quân sự, thế là ngày 24 tháng 4 năm 1966, tôi chính thức khoác ba lô, rời quê hương.

Khi nhập ngũ, tôi được đưa đi huấn luyện tại đơn vị trinh sát thuộc Quân khu Việt Bắc. Những ngày đầu quả thật không dễ dàng. Lính trinh sát khác với bộ binh thông thường. Ngoài sức bền, còn phải có đầu óc tỉnh táo, đôi mắt tinh và đôi chân nhẹ. Chúng tôi học cách đi rừng không để lại dấu vết, học ngụy trang giữa rừng, học bò qua hàng rào thép gai, học xử lý mìn, bẫy, học cách im lặng tuyệt đối trong nhiều giờ liền. Có những buổi huấn luyện phải ngâm mình dưới suối lạnh đến tím tái, có những ngày hành quân hàng chục cây số chỉ với nắm cơm khô trong túi.Một năm huấn luyện trôi qua, người nào cũng gầy đi, da sạm nắng, nhưng ý chí thì cứng như thép. Chúng tôi hiểu rằng, những gì đang học hôm nay chính là thứ sẽ giữ mạng sống mình ngày mai. Đến ngày 13 tháng 7 năm 1967, đơn vị tôi nhận lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam bốn tiểu đoàn hợp lại thành một trung đoàn, âm thầm tiến về phía trước.Khi ấy tôi mang cấp bậc binh nhất. Đén căn cứ quân sự Chúng tôi là lính trinh sát, đeo ba lô, súng đạn gọn nhẹ. Nhiệm vụ của trinh sát là đi trước, khảo sát trận địa địch. Mỗi bước đi đều là một sứ mệnh. Chúng tôi đi cách nhau đúng 5 mét. Nếu không may dẫm phải mìn mà không kịp xử lý, thì cũng chỉ mất một người, không để cả tổ hy sinh. Đi trong rừng sâu, có lúc tim đập mạnh đến mức tưởng như kẻ địch nghe thấy. Mắt phải quan sát từng ngọn cỏ, từng gốc cây, tai căng ra nghe từng tiếng động lạ. Khảo sát xong, chúng tôi quay về báo cáo chỉ huy, cùng bàn bạc, lên phương án tác chiến chi tiết. Đêm hôm đó, chúng tôi nhận lệnh đánh trận đồi 464 – Nam Lào. Bộ binh đã mai phục xung quanh quả đồi. Bảy dàn pháo, hàng tấn đạn đã vào vị trí, chỉ chờ lệnh . Phát pháo đầu tiên vang lên, cả ngọn đồi rung chuyển. Chúng tôi không bắn dồn dập ngay, mà chờ quân địch phản công để nghe ngóng, nắm tình hình. Đúng như dự đoán, quân ta đã chiếm sâu vào gần căn cứ địch. Pháo của ta bắn từ phía dưới hẻm sâu lên, khiến quân địch tưởng rằng ta còn ở xa, liền xả pháo xuống dưới hủm như mưa. Chính lúc ấy, ta tiết kiệm được rất nhiều đạn, mà vẫn gây tổn thất nặng cho địch. Sau hơn hai tiếng đồng hồ pháo kích, bộ binh bắt đầu áp sát. Tiếng súng nổ loạn xạ, lửa đạn sáng rực cả một vùng rừng núi. Đến rạng sáng hôm sau, ta làm chủ hoàn toàn trận địa, bắt sống 20 lính Mỹ, số còn lại chết trong hầm hoặc tháo chạy tán loạn. Đó là lần đầu tiên tôi trực tiếp tham gia một trận đánh lớn, cảm giác vừa hồi hộp, vừa tự hào, vừa thấy rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Buổi trưa hôm ấy, sau khi củng cố lực lượng và bàn giao tù binh cho cấp trên, tôi nhận lệnh ra Bắc học tập tại Trường chuyên gia quân sự ở Hòa Bình. Đến năm 1968, tôi lại được trở lại chiến trường Hạ Lào, làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở vùng hậu địch. Lúc này, tôi đã là thượng sĩ, vinh dự được làm Đội trưởng Đội vũ trang tuyên truyền. Công việc không chỉ cầm súng, mà còn phải vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, vừa chiến đấu, vừa tuyên truyền, vừa bảo toàn lực lượng. Đến năm 1974, chúng tôi rút khỏi căn cứ, về Đơn vị 967. Tháng 8 năm 1975, tôi được xuất ngũ, trở về địa phương, tưởng chừng cuộc đời binh nghiệp đã khép lại. Đến năm 1977, tôi lại nhận lệnh tái ngũ, công tác tại Tỉnh đội Hoàng Liên Sơn. Từ năm 1978, tôi học tập, rèn luyện tại Trường Quân sự Hoàng Liên Sơn. Tháng 9 năm 1978, tôi được giao nhiệm vụ Trợ lý tham mưu Tiểu đoàn 7A, huyện Văn Bàn. Tháng 2 năm 1979, tôi tiếp tục tham gia chiến đấu tại thị trấn Phố Lu, trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, đối đầu với quân Trung Quốc. Đến tháng 6, tôi được bổ nhiệm làm Đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 41, Trung đoàn 752, Sư đoàn 35. Đó là quãng thời gian vô cùng căng thẳng, nhưng cũng đầy tự hào.

Tháng 4 năm 1984, tôi chính thức trở về quê hương. Trong suốt quá trình công tác, tôi vinh dự được: 4 lần Chiến sĩ thi đua, 3 Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, 2 Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn