Nguyễn Trung Ngạn
Nguyễn Trung Ngạn – cái tên vang lên như một tiếng chuông ngân giữa trời đất Đại Việt thế kỷ XIV, để lại âm vang không chỉ trong sử sách mà trong cả lòng người đời sau. Ông sinh tại làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Hưng Yên – một vùng đất thuần hậu, nơi những lũy tre làng ôm lấy những cánh đồng mênh mông, nơi con người sống bằng sự cần cù và lòng ham học miệt mài. Chính cảnh quê yên bình mà giàu nghĩa khí ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn cậu bé Nguyễn Trung Ngạn, gieo vào lò
Từ thuở nhỏ, Nguyễn Trung Ngạn đã nổi tiếng thông minh khác thường, trí nhớ tốt, tư duy mạch lạc và có tài ứng đối hơn người. Những câu chuyện về cậu thiếu niên sáng dạ nhanh chóng lan ra khắp vùng, khiến người ta tin rằng một nhân tài lớn đang dần hình thành. Ông học không chỉ vì ham hiểu biết, mà còn vì khát vọng đem kiến thức ra góp sức cho xã hội. Mười lăm tuổi, khi bao đứa trẻ còn chạy chơi nơi sân đình, ông đã trở thành Hoàng giáp – một trong những thần đồng lẫy lừng nhất của lịch sử Đại Việt. Khoa bảng rạng danh ấy như chim báo bão của một sự nghiệp trị quốc lẫy lừng sau này.
Bước chân vào chốn quan trường, Nguyễn Trung Ngạn không mang theo ước vọng hưởng vinh hoa phú quý. Ý chí của ông lớn hơn thế – ông muốn xây dựng một đất nước thịnh trị, nơi người dân được sống trong yên ổn, nơi pháp luật minh bạch, nơi những kẻ tham tàn không còn đất sống. Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng giữ vững khí chất thanh liêm, cương trực, không cúi đầu trước quyền thế. Lời ông nói, bút ông viết đều hướng về lợi ích của dân, của nước. Trong những năm tháng làm quan, ông góp phần quan trọng trong việc biên soạn bộ Hình Thư – bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Bộ luật ấy giúp triều đình cai trị theo phép tắc rõ ràng, khiến kẻ mạnh không thể ức hiếp kẻ yếu, quan lại không thể lạm quyền mà tự tung tự tác. Chính nhờ đó mà xã hội thời Trần bước đầu có nền tảng pháp lý vững vàng, tạo dựng trật tự và niềm tin nơi nhân dân.
Không chỉ là một nhà chính trị tài ba, Nguyễn Trung Ngạn còn là một nhà ngoại giao xuất chúng. Trong những lần đi sứ nhà Nguyên, ông giữ vững khí phách của người Đại Việt, dùng trí tuệ và tài ứng đối để bảo vệ danh dự quốc gia. Trước triều đình phương Bắc đầy uy thế, ông vẫn thẳng thắn, đĩnh đạc, thể hiện phong thái của người trí thức chân chính. Những bài thơ ông viết trên đường đi sứ, giữa những chặng đường xa ngái, chứa đầy nỗi nhớ quê, nhớ dân, đồng thời phơi bày nỗi đau đáu về vận mệnh quốc gia trong cơn sóng gió. Những vần thơ ấy không chỉ có giá trị văn học, mà còn là tấm gương phản chiếu tâm hồn một người lo nước thương dân đến quặn lòng.
Trong đời làm quan, Nguyễn Trung Ngạn đi nhiều nơi, hiểu nhiều cảnh. Ông nhìn thấy nỗi khổ của dân làng, nghe tiếng thở dài của người nông dân sau những mùa mất mùa, chứng kiến cảnh quan lại tham ô khiến cuộc sống nhân dân thêm khốn khó. Những điều ấy khiến trái tim ông không phút nào yên. Vì vậy, dù ở nơi kinh thành hay vùng biên ải, ông đều nỗ lực hết sức để giảm gánh nặng cho dân. Ông chỉnh đốn quan lại, xem xét lại sổ thuế, loại bỏ những thứ luật lệ bất công và lên tiếng mạnh mẽ chống lại sự nhũng nhiễu của những kẻ có quyền thế. Sự chính trực của ông trở thành nỗi sợ của kẻ tham lam nhưng lại là chỗ dựa vững chắc của người dân lương thiện. Người ta vẫn lưu truyền rằng: “Ở đâu có Nguyễn Trung Ngạn, ở đó dân được yên lòng.”
Dẫu gánh trọng trách nặng nề, Nguyễn Trung Ngạn vẫn là con người giàu cảm xúc. Thơ văn của ông là sự hòa quyện giữa trí tuệ và tâm hồn, giữa sự từng trải và lòng nhân hậu. Những câu chữ của ông không cầu kỳ, không tô vẽ, nhưng chứa đựng chiều sâu khiến người đọc không khỏi lặng đi. Ông từng viết những bài thơ về sự đời, về lẽ thịnh suy, về cái mong manh của kiếp người giữa biến động thời cuộc. Mỗi vần thơ giống như lời tự sự của một trí thức lớn luôn khắc khoải: làm sao để đời sống dân chúng bớt nhọc nhằn? làm sao để đất nước mãi thái bình? làm sao để con người sống đúng với đạo lý?
Tuy giữ nhiều chức vụ quan trọng, ông vẫn chọn cuộc sống thanh bạch. Nhà của ông không chất đầy vàng bạc, mà chất đầy sách. Ông không màng giàu sang, không chạy theo quyền lực, chỉ giữ cho mình một tấm lòng trong như nước giếng làng. Người đời yêu kính ông bởi ông không chỉ nói về nhân nghĩa mà còn sống bằng nhân nghĩa ấy. Trong mắt dân chúng, ông là vị quan hiền; trong mắt sử sách, ông là trí thức lớn; trong mắt hậu thế, ông là biểu tượng của sự liêm chính.
Cuộc đời Nguyễn Trung Ngạn, nhìn lại tựa như một dòng sông – lúc êm đềm, lúc dữ dội, nhưng luôn chảy về phía những điều tốt đẹp. Dù trải qua bao sóng gió thời thế, ông vẫn giữ cho mình sự bình thản của người hiểu rõ đạo trời và lòng người. Cuối cuộc đời, khi tóc đã bạc, lòng ông vẫn hướng về quê hương, về nhân dân, về khát vọng xây dựng một xã hội thịnh trị. Ông ra đi, nhưng những gì ông để lại – từ pháp luật, văn hóa, đến đạo lý làm quan – vẫn còn nguyên giá trị.
Ngày nay, khi sống trong thời bình, chúng ta càng thấm thía hơn những đóng góp mà ông đã dành cho dân tộc. Ông không phải là vị tướng cầm quân ra trận, cũng không phải người đem lại những chiến tích vang dội nơi chiến trường. Nhưng ông góp phần tạo dựng một nền quốc gia vững vàng, một xã hội có kỷ cương, một truyền thống văn hóa rạng rỡ. Những điều ấy, bền bỉ và thầm lặng, chính là nền móng để dân tộc ta đứng vững trong mọi biến động của lịch sử.
Xin gửi đến Nguyễn Trung Ngạn – người con kiệt xuất của Hưng Yên, của Đại Việt – lời cảm ơn chân thành nhất. Cảm ơn ông vì trí tuệ làm rạng danh nước nhà. Cảm ơn ông vì trái tim chan hòa nhân nghĩa. Cảm ơn ông vì đã sống một đời thanh sạch, tận tụy, hiên ngang trước bao thử thách. Và cảm ơn ông vì những giá trị bền lâu mà ông để lại, như ngọn đèn thắp sáng con đường hậu thế.
Tên tuổi ông sẽ còn sống mãi – trong sử sách, trong văn chương và trong lòng nhân dân – như một biểu tượng vững bền của khí phách, trí tuệ và lòng nhân ái Việt Nam.



