Bài viết

Nguyễn Trường Tộ và khát vọng canh tân đất nước

Lịch sử phát triển của dân tộc đã ghi nhận nhiều cuộc cải cách, canh tân đất nước: Khúc Hạo (907), Hồ Quý Ly (cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV), Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV), Quang Trung - Nguyễn Huệ (cuối thế kỷ XVIII), Minh Mạng (nửa đầu thế kỷ XIX)… với mức độ thành công khác nhau và do nhiều nguyên nhân chi phối. Tuy nhiên, mục đích chung của những cuộc cải cách ấy là khẳng định ý thức tự tôn, sự trường tồn dân tộc, mong đưa đất nước tiến cùng thời đại. Một trong những cuộc cải cách thời cận đại Việt Nam gắn liền với tên tuổi nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ.

Nghệ An12/08/2026Xã Anh Sơn (Đoàn xã Anh Sơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện về Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là một trong những chương mang màu sắc u uẩn của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX. Ông là người sở hữu tầm nhìn vượt trước thời đại hàng thế kỷ, nhưng lại phải chịu số phận của một "tiên tri cô độc" trong một triều đình đang ngủ quên trên những giá trị cũ.

Nguyễn Trường Tộ sinh ra trong một gia đình Công giáo tại Nghệ An. Vì là người theo đạo, ông không thể tham gia các kỳ thi khoa cử Nho giáo đương thời. Tuy nhiên, chính sự "ngoại đạo" này đã đưa ông đến với Giám mục Gauthier, người đã đưa ông sang Pháp và đi du lịch qua nhiều nước châu Âu, châu Á trong những năm 1858 - 1861.

Tại Paris, trong khi thực dân Pháp đang nổ súng vào Đà Nẵng, Nguyễn Trường Tộ lại miệt mài quan sát sự phát triển của nền công nghiệp, hệ thống giáo dục và cách vận hành chính trị của phương Tây. Ông nhận ra rằng: Thế giới đã thay đổi, và Đại Nam không thể sống sót nếu chỉ dựa vào kinh thư và gươm giáo.

Trở về nước năm 1861, ông làm thông dịch cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm. Với lòng yêu nước sâu sắc, ông đã gửi lên vua Tự Đức hàng loạt bản điều trần (khoảng 58 bản) đề xuất cải cách toàn diện đất nước. Ông không chỉ nói lý thuyết mà đưa ra những giải pháp cực kỳ chi tiết:

- Về chính trị - ngoại giao: Ông khuyên triều đình nên mở cửa giao thương với cả Anh, Mỹ, Đức để "lấy độc trị độc", không để Pháp độc chiếm quyền lợi.

- Về kinh tế: Đề nghị mời chuyên gia nước ngoài đến khai thác mỏ, xây dựng đường xá, cải cách thuế khóa.

- Về giáo dục: Ông kịch liệt phê phán lối học từ chương. Trong bản Tế cấp bát điều (Tám việc cần kíp), ông viết:

"Ngày nay các nước phương Tây đã bỏ xa chúng ta cả ngàn dặm... Phải bỏ lối học cử tử, từ chương, mà thay bằng học luật pháp, khoa học, kỹ thuật thực dụng."

- Về tôn giáo: Ông nỗ lực hòa giải mâu thuẫn giữa triều đình và giáo dân, khẳng định người theo đạo cũng là người yêu nước.

Chính sử ghi lại rằng, vua Tự Đức khi đọc các bản điều trần của ông đã có lúc phải thốt lên: "Trường Tộ sao mà nói nhiều thế!". Dù nhà vua có phần nể trọng tài năng của ông (từng cử ông sang Pháp mua máy móc, thuê thợ), nhưng những đề xuất của ông luôn bị dập tắt bởi sự bảo thủ của đình thần: Các đại thần đứng đầu như Trần Tiễn Thành, Nguyễn Tri Phương dù yêu nước nhưng lại không hiểu về kỹ thuật. Nhiều quan lại khác thì mỉa mai ông là kẻ "theo giặc", "mê hoặc lòng người".

Trong bối cảnh Pháp dùng chiêu bài bảo vệ đạo Thiên chúa để xâm lược, gốc gác Công giáo của ông trở thành rào cản khiến lời nói của ông mất đi sức nặng trong mắt các nhà nho thủ cựu.

Khi nhìn thấy Nam Kỳ lần lượt mất vào tay Pháp, ông đau đớn viết trong bản Trần tình:

"Một nước mà không tự cường thì dù có trăm vạn binh cũng chỉ là bia đỡ đạn cho kẻ khác."

Năm 1871, Nguyễn Trường Tộ qua đời ở tuổi 41 khi những hoài bão lớn lao vẫn còn dang dở. Cái chết của ông cũng đánh dấu sự khép lại của cánh cửa duy tân cuối cùng cho nhà Nguyễn.

Nhiều chứng cứ cho thấy ông mất vì bệnh xuất huyết bao tử. Riêng Giám mục Gauthier cho rằng ông bị đầu độc. Trong một thư đề ngày 1 tháng 11 năm 1871, vị Giám mục này viết: "Người Giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867 và người ta gọi là Kiến trúc sư (...) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc"

Các sử gia sau này đánh giá: Nếu vua Tự Đức quyết đoán như Thiên hoàng Minh Trị, chấp nhận các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ từ những năm 1860, lịch sử Việt Nam có lẽ đã rẽ sang một hướng khác—hướng của một quốc gia tự cường thay vì 80 năm nô lệ.

Trích đánh giá của GS. Nguyễn Hữu Tá:

...Ở tuổi 30, Nguyễn Trường Tộ đã có một vốn kiến thức rộng và sâu cả về phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Với tiềm lực chất xám rất quý như thế, nếu ông được tin dùng, được tạo điều kiện để hoạt động, tình thế có thể sẽ rất khác. Bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lý khó tin nhưng có thật. Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm; thực sự có tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớn – sự trì trệ bảo thủ, dị ứng với chủ trương duy tân, tự cường của triều đình Tự Đức và sự nghi ngờ dai dẳng của họ với những người tin theo Công giáo.

Bi kịch lớn lao ấy bình thường ra có thể nhấn sâu những con người nặng lòng với đất nước vào tình trạng trầm cảm, u uất, bế tắc. Nhưng với Nguyễn Trường Tộ thì không. Ông đã bộc lộ một phẩm chất đáng tôn trọng: sự kiên trì nhẫn nại – nhẫn nại đến mức phi thường. Trong vòng 10 năm (1861 – 1871), Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế rất nhiều bản điều trần. Riêng Linh mục Trương Bá Cần đã tập hợp được 58 bản và công bố trong tập Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo. Gửi mà không có hồi âm, nhưng lại tiếp tục gửi nữa. Đề tài không lặp lại, nội dung hết sức phong phú đề cập đến hầu hết những vấn đề chiến lược ở tầm "quốc sách"...

Ngôi mộ của ông tại Hưng Nguyên, Nghệ An có dòng câu đối do chính ông soạn, tóm gọn cả một đời đau đáu:

"Nhất đăng hàm chiếu bách niên tâm"

(Một ngọn đèn soi chiếu tấm lòng trăm năm).

Để vinh danh Nguyễn Trường Tộ, tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn