NGUYỄN VĂN BẢY – NHỮNG TRẬN CHIẾN TRÊN KHÔNG CHIẾN LÀM NÊN HUYỀN THOẠI
Nguyễn Thị Phương Anh

Các cuộc không chiến
MiG-17 là loại máy bay đã rất lạc hậu vào thời điểm đó: không có radar và tên lửa, vận tốc tối đa chỉ đạt Mach 0,9, nó không thể sánh được với loại MiG-21 hoặc các tiêm kích đời mới của Hoa Kỳ như F4 Phantom. Để khắc phục bất lợi về trang bị, các phi công Việt Nam như Nguyễn Văn Bảy đã sử dụng những chiến thuật rất đặc biệt: “luồn sâu đánh hiểm”, “đồng loạt tấn công”, ”tiến công liên tục”, “xé đội hình vòng tròn”, “chia cắt đội hình địch”, “tấn công khi địch cắt kéo”… Trong đó có thuật ngữ "Tắt máy núp mây", tất nhiên đây là thuật ngữ chiến thuật ẩn dụ chứ không phải hiểu theo nghĩa đen là “tắt động cơ rồi dừng lại nấp trong mây”. Theo thuật ngữ này, lúc giao chiến, MiG bay vọt lên cao, vượt qua góc quét của radar trên máy bay Mỹ (gọi ẩn dụ là “núp mây”); sau đó bổ nhào lao nhanh đứng xuống tấn công đội hình địch, khi bổ nhào máy bay sẽ rung lắc mạnh nên thường không sử dụng đốt tăng lực ở động cơ (gọi ẩn dụ là ”tắt máy”). Lúc này phi công Mỹ sẽ bị tấn công bất ngờ. Trong các hồi ký của phi công Mỹ thường kể MiG-17 áp sát tấn công một cách bất ngờ từ ngoài màn hình radar. Bên cạnh đó, còn có sự ghi nhận việc máy bay MiG bay thấp sát mặt đất (tránh radar trên máy bay Mỹ) hoặc kết hợp với việc bay thấp và leo cao bổ nhào để tạo bất ngờ.
Nhờ chiến thuật hợp lý, Nguyễn Văn Bảy đã giành được những thắng lợi đáng kể. Trong hai năm 1966–1967, ông đã lái chiếc MiG-17 xuất kích 94 lần, 13 lần nổ súng và bắn rơi 7 máy bay Mỹ. Không có phi công MiG-17 nào đã bắn rơi nhiều máy bay hơn ông, và ông cũng chưa bị bắn rơi lần nào.
Lần đầu xuất trận
10h ngày 19 tháng 6 năm 1965, biên đội Mig-17 của Nguyễn Văn Bảy cất cánh. 10h10 thì Không quân Việt Nam phát hiện máy bay Mỹ trên bầu trời Yên Thế và quyết định tấn công. Lực lượng Mỹ dựa vào số đông phản kích. Trận này máy bay của ông bị trúng 1 quả tên lửa nổ gần, thân máy bay bị 82(có nguồn nói 84 vết thủng, có những vết thủng lớn hơn cả bàn tay, nhưng ông vẫn cố gắng điều khiển máy bay hạ cánh an toàn. Đây được xem là kỳ tích khi hiếm có phi công tiêm kích phản lực nào trên thế giới mà máy bay bị thương gần nát khúc đuôi vẫn còn bình tĩnh và tự tin đưa nó về hạ cánh an toàn.
Chiến thắng đầu tiên
Ngày 21 tháng 6 năm 1966, biên đội bốn chiếc Mig-17 của Trung đoàn không quân tiêm kích 923 phát hiện một máy bay trinh sát RF-8A được hộ tống bởi F-8 Crusader (Hiệp sĩ thánh chiến) của phi đội 211 Hoa Kỳ. Trận này biên đội Mig-17 bị bắn rơi hai chiếc, phía Hoa Kỳ lại bị hạ một chiếc F-8E và một chiếc RF-8A. Chiếc F-8E do Cole Black điều khiển bị bắn hạ với sự góp sức của ông. Còn chiếc RF-8A do Leonard Eastman lái thì bị biên đội trưởng Phan Thành Trung tiêu diệt. Phi công Cole Black bị bắt làm tù binh, giam giữ tại trại giam Hỏa Lò, Hà Nội.
Võ Nhai
Ngày 24 tháng 6 năm 1966, trên bầu trời Võ Nhai (Bắc Thái), phát hiện hai máy bay Không lực Hoa Kỳ đang bám đuổi máy bay của Không quân Nhân dân Việt Nam. Ông Bảy cùng một đồng chí bất ngờ lao thẳng vào đội hình đối phương và bám riết nổ súng, một máy bay Mỹ bốc cháy, rớt tại chỗ. Trận này biên đội của ông bắn rớt hai máy bay Mỹ, riêng ông hạ một chiếc, đó là chiếc F-4C của thiếu tá Mỹ John Roberton.
Việt Trì
Ngày 29 tháng 6 năm 1966, trên bầu trời Việt Trì (Vĩnh Phú), biên đội máy bay Việt Nam bị máy bay Mỹ với số lượng đông hơn nhiều lần bám đuổi. Nguyễn Văn Bảy quay lại đối đầu và bắn hạ một máy bay.
Đức Giang
Ngày 29 tháng 6 năm 1966, đơn vị Nguyễn Văn Bảy không chiến với tốp Thần sấm F-105D đang đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội). Trận này Nguyễn Văn Bảy hạ chiếc chỉ huy của Thiếu tá Murphy Neal Jones.
Nam Hà
Ngày 5 tháng 9 năm 1966, tại vùng trời khu vực Cầu Giẽ – Phủ Lý giáp ranh giữa Hà Tây và Nam Hà, phát hiện thấy hai máy bay F-8 sau khi ném bom định lẫn vào mây mù bỏ trốn. Phi công Nguyễn Văn Bảy và Võ Huy Mẫn đuổi theo hạ hai chiếc này. Sau trận này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao tặng huy hiệu cho hai phi công.
Chí Linh
Ngày 16 tháng 9 năm 1966, mười sáu máy bay F-4 và F-105 tiến vào vùng trời Chí Linh (Hải Dương), chia nhiều tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bao vây biên đội bốn máy bay Việt Nam. Trong trận chiến này, cả biên đội Việt Nam hạ ba chiếc F-4 trong đó ông Nguyễn Văn Bảy hạ một chiếc, hạ cánh an toàn.
Kiến An
Mờ sáng 21 tháng 9 năm 1966, biên đội bốn chiếc Mig-17 do Nguyễn Văn Bảy chỉ huy đã được lệnh chuyển từ Gia Lâm xuống sân bay Kiến An. Theo phương án, không quân Mỹ sẽ đánh đường số 1 từ biển bay vào hướng Quảng Ninh, Bắc Giang, MiG-17 cất cánh bí mật tiếp cận. Sau đó mười sáu chiếc F-105 cộng với tám chiếc F-4 tiêm kích bao vây Nguyễn Văn Bảy và Võ Huy Mẫn, còn Đỗ Huy Hoàng bị bắn rơi nhảy dù, chiếc Mig còn lại lạc đường.
Phát hiện chiến thuật của quân Mỹ, ông Bảy thông báo với Võ Huy Mẫn hai chiếc F-4 bay úp và Võ Huy Mẫn nhanh chóng hạ một chiếc. Ngay lúc đó, một chiếc F-105 bắn tên lửa vào chiếc MiG-17 của Võ Huy Mẫn trong khi phía trước chiếc -17 là 1 chiếc F-4. Nguyễn Văn Bảy ra lệnh cho MiG-17 của Võ Huy Mẫn ra khỏi tầm ảnh hưởng, hai quả tên lửa của Mỹ lao rất nhanh vào chiếc F4 phía trước, chiếc F4 của Mỹ gãy đôi.
Hải Phòng
Ngày 24 tháng 4 năm 1967, từ sân bay dã chiến Kiến An, đơn vị Nguyễn Văn Bảy chiến đấu với tốp máy bay Mỹ đánh cảng Hải Phòng. Chiếc Mig-17 của ông tiếp cận và bắn hạ chiếc F-8C do Thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái. Khi những máy bay hộ tống quay lại định trả thù, thì ông Bảy bay ngoặt tránh đòn lao máy bay hạ gục một chiếc F-4H.
Số 7 gắn liền với cuộc đời
Sau năm 1967, theo chính sách giữ gìn phi công giàu kinh nghiệm, ông không tiếp tục chiến đấu mà được rút về làm công tác huấn luyện, đào tạo và truyền thụ kinh nghiệm cho lớp phi công mới.
Ông từng kể rằng: Tao toàn gặp số bảy: Tên Bảy, con thứ 7, đi bộ đội lúc 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày lên 7 lớp, 7 lần bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng máy bay Mig 17, được phong Anh hùng năm 1967...
Nhầm lẫn
Một số báo chí thường nhầm lẫn phi công Bảy A là người đã tham gia trận chiến không đối hải với chiến hạm Highbee của Hải quân Hoa Kỳ. Người tham gia trận chiến đó cũng là một phi công tên là Nguyễn Văn Bảy quê ở Cà Mau, tức Bảy B, hy sinh năm 1972.


