Nguyễn Văn Bửu
Khi nhắc đến phong trào Duy Tân 1916, người ta thường nhớ đến vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân hay Lê Đình Dương – những cái tên được khắc trên đường phố, trường học, bệnh viện. Ít ai biết rằng, đằng sau những lãnh tụ ấy là hàng nghìn người nông dân chân lấm tay bùn, không được học nhiều chữ nghĩa nhưng sẵn sàng lấy thân mình che chở cho cán bộ, lấy máu và nước mắt nuôi giấu phong trào. Một trong số họ là ông Nguyễn Văn Bửu, còn gọi là Bảy Bửu, người làng Phú Thượng, nay thuộc xã Tam Phú, t
Khi nhắc đến phong trào Duy Tân 1916, người ta thường nhớ đến vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân hay Lê Đình Dương – những cái tên được khắc trên đường phố, trường học, bệnh viện. Ít ai biết rằng, đằng sau những lãnh tụ ấy là hàng nghìn người nông dân chân lấm tay bùn, không được học nhiều chữ nghĩa nhưng sẵn sàng lấy thân mình che chở cho cán bộ, lấy máu và nước mắt nuôi giấu phong trào. Một trong số họ là ông Nguyễn Văn Bửu, còn gọi là Bảy Bửu, người làng Phú Thượng, nay thuộc xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông không có tên trên báo, không có đường phố mang tên, nhưng câu chuyện của ông là một viên gạch vô danh làm nên ngôi đền độc lập của dân tộc. Ông Nguyễn Văn Bửu sinh năm 1890 trong một gia đình nông dân nghèo. Cả đời ông chỉ biết đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ và một ít chữ Nôm do cha truyền lại. Thế nhưng, chính trong con người mộc mạc ấy lại cháy bỏng một tình yêu nước mãnh liệt. Lớn lên giữa những cuộc khai thác thuộc địa tàn bạo của thực dân Pháp, chứng kiến cảnh làng xóm bị cướp đoạt ruộng đất, người thân bị bắt lính, bị đánh đập, ông sớm nuôi chí đánh Tây cứu nước. Năm 1915, khi phong trào Duy Tân do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo ráo riết chuẩn bị khởi nghĩa, ông được một người cùng làng giác ngộ và dẫn vào tổ chức bí mật. Nhiệm vụ của ông không phải cầm súng hay bàn kế hoạch lớn, mà là liên lạc, vận chuyển tài liệu và nuôi giấu cán bộ – công việc thầm lặng, nguy hiểm nhưng vô cùng quan trọng. Nguyễn Văn Bửu được giao phụ trách khu vực rừng núi Hòn Kẽm, nơi giáp ranh giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi. Đây là căn cứ bí mật nuôi giấu nhiều lãnh tụ trong những tháng cuối cùng trước khi khởi nghĩa. Trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, không thuốc men, không gạo trắng, ông cùng vài thanh niên trong làng phải vào rừng đào củ mài, hái lá rừng, bẫy thú để nuôi sống cán bộ. Mỗi chuyến đi liên lạc từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng, ông phải lội bộ hàng trăm cây số, ngày đi đêm nghỉ, lẩn tránh lính Pháp và tay sai, mang theo những bức thư mật viết trên giấy dó mỏng, cất giấu trong gậy tre hoặc dưới đế dép. Ông còn trực tiếp tham gia vận chuyển vũ khí thô sơ – những thanh giáo, mác, vài khẩu súng kíp cũ – từ Đà Nẵng về các làng xã Quảng Nam. Một lần bị lính Pháp phục kích, ông phải lao xuống sông, lặn hàng giờ để thoát thân, suýt chết đuối, nhưng chưa một lần ông tính chuyện bỏ cuộc. Đêm 2 rạng ngày 3 tháng 5 năm 1916, cuộc khởi nghĩa Duy Tân bị bại lộ do sự phản bội của nội gián. Vua Duy Tân và các lãnh tụ bị truy bắt. Lúc đó, Nguyễn Văn Bửu đang trên đường mang một bức thư mật từ căn cứ ra Đà Nẵng. Khi qua đèo Le, ông bị lính Pháp chặn bắt. Chúng lục soát người và tìm thấy bức thư dấu trong quai mũ. Ngay đêm hôm đó, ông bị tra tấn dã man. Theo lời kể được ghi lại trong cuốn Lịch sử truyền thống cách mạng xã Tam Phú, ông Bảy Bửu bị đánh đến gãy cả hai tay, lưng thâm tím vì roi sắt, móng tay bật ra vì kìm cậy. Chúng đốt lửa vào người, hứa sẽ tha nếu khai ra đầu mối liên lạc. Ông chỉ cắn răng, một mực nói: “Tôi không biết gì cả.” Người Pháp sau đó ghi trong hồ sơ: “Tên này rất cứng đầu, không khai thác được gì.” Ông bị kết án 15 năm khổ sai biệt xứ. Nguyễn Văn Bửu bị đày lên nhà tù Buôn Ma Thuột – nơi được mệnh danh là địa ngục trần gian thời bấy giờ. Tù nhân phải lao dịch từ 12 đến 14 giờ mỗi ngày dưới cái nắng Tây Nguyên cháy da, ăn cơm mốc, uống nước suối, bệnh sốt rét và kiết lỵ hoành hành. Chính tại nơi ấy, ông gặp Lê Đình Dương – vị bác sĩ, nhà cách mạng nổi tiếng cũng bị đày lên đây. Sau này, qua lời kể của một tù nhân khác, Lê Đình Dương có nói: “Thằng Bảy Bửu quê mùa mà gan cóc tía. Đòn tra tấn đánh không ra tiếng khóc. Ngồi với nó một lát, ta lại thêm cứng cỏi.” Trong tù, dù bị thương tật, Nguyễn Văn Bửu vẫn lén giúp đỡ những tù nhân yếu hơn: nhường cơm, đỡ đi vệ sinh, chăm sóc khi sốt. Ông trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhiều người cùng cảnh. Năm 1931, Nguyễn Văn Bửu mãn hạn tù. Khi về đến làng Phú Thượng, ông đã 41 tuổi. Hai tay gần như liệt vì di chứng tra tấn, không thể làm ruộng nặng. Ông sống lay lắt bằng nghề đan lát tre nứa và bốc thuốc nam học lỏm trong tù. Ông không một lần đến ủy ban xã xin tiền hay kể công. Có người hỏi sao không làm đơn xin tiền tuất, ông cười bảo: “Được về sống đến bây giờ là quá đủ rồi. Hồi ở tù, tưởng chết từ lâu.” Năm 1968, trong một trận càn của quân đội Mỹ vào vùng Tam Kỳ, ngôi nhà nhỏ của ông bị đốt sạch. Nguyễn Văn Bửu khi ấy đã 78 tuổi, già yếu, không kịp chạy thoát. Ông mất trong ngọn lửa, không một ai chứng kiến. Sau đó, không có giấy báo tử, không đám tang, không bia mộ. Con cháu ông tìm kiếm mãi chỉ còn thấy một gò đất đổ nát sau cánh đồng làng. Dân làng bảo: “Đấy là mộ cụ Bảy Bửu đó, nhưng chẳng ai dám chắc.” Không một con đường nào mang tên Nguyễn Văn Bửu. Không một trường học, bệnh viện nào mang tên ông. Sách giáo khoa lịch sử không nhắc đến ông. Ông là một trong vô vàn người nông dân, thanh niên, công nhân vô danh đã hy sinh cả tuổi thanh xuân, cả sức khỏe, cả mạng sống cho nền độc lập. Họ không đòi hỏi gì. Họ chỉ đơn giản là yêu nước theo cách thầm lặng nhất. Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Bửu – người nông dân làng Phú Thượng – là câu chuyện của hàng nghìn, hàng vạn nhân chứng thầm lặng khác trong thời hoa lửa. Họ không có bằng cấp, không có danh vọng, nhưng có một trái tim nóng hổi tình yêu Tổ quốc. Họ hy sinh để hôm nay chúng tôi – những đứa trẻ sinh ra trong hòa bình – được cắp sách đến trường, được ước mơ về tương lai. Tôi viết những dòng này không chỉ để dự thi, mà để nhắc mọi người rằng: đừng chỉ nhớ đến những anh hùng có tên đường. Hãy nhìn về những gò đất vô danh sau cánh đồng, nơi có những người như Bảy Bửu đang nằm lại, mỉm cười vì thấy đất nước hôm nay thanh bình. Và nếu có thể, tôi mong rằng chính quyền địa phương và thế hệ trẻ hôm nay sẽ cùng nhau tìm lại gò đất ấy, dựng lên một tấm bảng nhỏ: “Nơi an nghỉ của ông Nguyễn Văn Bửu – người con làng Phú Thượng, chiến sĩ cách mạng thầm lặng trong phong trào Duy Tân 1916”. Chỉ một tấm bảng thôi, cũng đủ để một người đã hy sinh cả cuộc đời không bị lãng quên thêm một ngày nào nữa.



