Nguyễn Văn Cừ - người chiến sỹ kiên trung của vùng mỏ Quảng Ninh
Vùng mỏ Quảng Ninh – nơi khai thác than từ sâu trong lòng đất, từng là “cái nôi” của phong trào công nhân Việt Nam, cũng là nơi ươm mầm những chiến sĩ kiên trung của Đảng. Những con người ấy không chỉ lao động hầm mỏ, làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, mà còn lặng lẽ gieo niềm tin cách mạng vào lòng công nhân, vận động quần chúng giác ngộ, thành lập các công hội đỏ, và góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ mảnh đất này, nhiều cán bộ Đảng xuất sắc đã trưởng thành, trở thành những nhà lãnh đạo tài năng như Nguyễn Văn Cừ, Vũ Văn Hiếu, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt, và cả anh hùng tình báo Đào Phúc Lộc – huyền thoại tình báo của Việt Nam.
Trong số những con người kiên trung ấy, đồng chí Nguyễn Văn Cừ – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam – là một tấm gương sáng về trí tuệ, ý chí và tinh thần bất khuất. Sinh ngày 9/7/1912 trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, Nguyễn Văn Cừ là hậu duệ đời thứ 17 của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Ngay từ tuổi thiếu niên, cậu bé Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện trí tuệ thông minh, lòng yêu nước nồng nàn và tư chất cách mạng anh hùng. Khi mới 17 tuổi, Nguyễn Văn Cừ đã tham gia phong trào cách mạng, bắt đầu con đường gắn bó trọn đời với Đảng và cách mạng.
Cuối năm 1928, Nguyễn Văn Cừ rời Bắc Ninh, bí mật ra vùng mỏ Đông Bắc để hoạt động cách mạng. Tháng 6/1929, khi Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời, đồng chí trở thành một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên của Đảng. Tại Uông Bí – Vàng Danh, Nguyễn Văn Cừ cùng đồng chí thành lập chi bộ Đảng, tập hợp thợ lò, thợ máy và hội viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Ngày 3/2/1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức ra đời, Nguyễn Văn Cừ trở thành đảng viên của Đảng, đảm nhiệm chức Bí thư Đặc khu ủy Hòn Gai – Uông Bí.
Nhưng con đường cách mạng luôn đầy chông gai. Ngày 15/2/1931, trên đường từ Cẩm Phả về Hòn Gai, Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt. Đồng chí bị chuyển từ Hòn Gai về Hà Nội, giam ở nhà tù Hỏa Lò – nơi nổi tiếng tàn bạo. Ở đây, thay vì khuất phục, Nguyễn Văn Cừ kiên cường học tập lý luận, chính trị, tự trui rèn bản lĩnh và ý chí cách mạng. Không khai thác được gì từ ông, thực dân Pháp buộc phải xét xử và kết án 20 năm biệt xứ, đày ra Côn Đảo.
Côn Đảo – “địa ngục trần gian” đối với tù chính trị, nhưng đối với Nguyễn Văn Cừ lại trở thành “trường học cách mạng”. Ông cùng đồng chí đấu tranh chống áp bức, cải thiện đời sống trong tù, dịch các tác phẩm kinh điển ra tiếng Việt và truyền tay phổ biến cho anh em. Những năm tháng trong lao tù đã rèn luyện ý chí, trí tuệ và bản lĩnh của Nguyễn Văn Cừ, biến ông thành người chiến sĩ cách mạng xuất sắc, kiên định lý tưởng.
Năm 1936, trước áp lực phong trào đấu tranh ở Việt Nam và Pháp, thực dân Pháp buộc phải thả một số tù chính trị, trong đó có Nguyễn Văn Cừ. Trở về đất liền, ông tiếp tục công tác cách mạng. Tháng 3/1938, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư Đảng. Trong hai năm tại cương vị này (1938–1940), đồng chí đã thể hiện tư chất lãnh tụ xuất sắc, đưa ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, phát động cao trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sục sôi trên khắp cả nước.
Chính những năm tháng hoạt động ở vùng mỏ Đông Bắc đã giúp Nguyễn Văn Cừ học hỏi thực tiễn, từ những bài học thành công và thất bại, rút ra phương pháp cách mạng phù hợp với tình hình Việt Nam. Những trải nghiệm này góp phần vào sự chuẩn bị về lý luận và thực tiễn, đặt nền móng cho thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Vùng mỏ Quảng Ninh, nhờ có những chiến sĩ kiên trung như Nguyễn Văn Cừ, trở thành nơi ghi dấu truyền thống cách mạng, là “trường học” trui rèn bao thế hệ cán bộ Đảng, nơi hun đúc ý chí, bản lĩnh và trí tuệ. Và mãi mãi, tên tuổi của những con người ấy gắn liền với lịch sử vẻ vang 90 năm của Đảng, làm sáng rỡ mảnh đất giàu truyền thống cách mạng này.



