Nguyễn Văn Cừ - Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ (1912 - 1941), quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tham gia cách mạng từ khi còn là học sinh. Năm 1929, ông gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Khi ba tổ chức Cộng sản hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Nguyễn Văn Cừ được cử làm Bí thư Đặc khu Hòn Gai - Uông Bí.

Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và đày đi Côn Đảo. Năm 1936, được trả tự do. Tháng 9-1937, ông được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tại Hội nghị Trung ương Đảng tháng 3-1938, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ là người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương tại Bà Điểm, Gia Định (11-1939), quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Tháng 8-1940, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Tháng 8-1941, ông bị giết hại tại Hóc Môn (Sài Gòn - nay là Thành phố Hồ Chí Minh).
Năm 1930, khi Đảng ta vừa mới thành lập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Bí thư đặc khu Hòn Gai - Uông Bí. Ngày 15-2-1931, trên đường đi công tác tại Cẩm Phả về Hòn Gai, Nguyễn Văn Cừ đã bị mật thám Pháp bắt[1]. Chúng đưa đồng chí Nguyễn Văn Cừ về Sở Mật thám Hòn Gai tạm giam. Sau biết Nguyễn Văn Cừ là một cán bộ quan trọng của Đảng, lập tức chúng dẫn giải đồng chí về Sở Mật thám Hải Phòng. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị Hội đồng đề hình Hà Nội kết án chung thân, đày đi Côn Đảo..
Giữa năm 1936, hơn một tháng sau khi Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình, đòi trả tự do cho tù chính trị phát triển mạnh buộc Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp phải tuyên bố ân xá tù chính trị ở Đông Dương. Nắm được tình hình đó, tù chính trị ở nhà tù Côn Đảo nổi dậy đấu tranh đòi thả tự do. Nhờ vậy, hơn 200 chiến sĩ cách mạng được trở về đất liền.
Nguyễn Văn Cừ được ân xá, nhưng mãi đến tháng 11-1936 mới được thực dân Pháp trả tự do và buộc phải về quê sống và chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương. Bất chấp lệnh quản thúc của chính quyền thuộc địa, về Bắc Ninh được vài ngày đồng chí lại ra Hà Nội tiếp tục hoạt động gây dựng lại tổ chức đảng và phong trào quần chúng.
Sau khi được trả tự do, chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều chiến sĩ cộng sản trở về Hà Nội tiếp tục hoạt động như: Nguyễn Văn Cừ, Trần Huy Liệu, Lương Khánh Thiện, Khuất Duy Tiến, Đặng Xuân Khu, Đinh Xuân Nhạ (tức Trần Quý Kiên), Bùi Vũ Trụ...[2]. Nói về Kỷ niệm sâu sắc về đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Nguyễn Văn Minh[3] đã viết: “…Sau một thời gian tìm hiểu, tôi bắt được liên lạc với các đồng chí Trần Huy Liệu, Trần Quý Kiên, Đặng Việt Châu, Tô Hiệu và Nguyễn Văn Cừ. Cuộc gặp đồng chí Nguyễn Văn Cừ là do đồng chí Tô Hiệu giới thiệu - vì Tô Hiệu và Nguyễn Văn Cừ cùng bị tù với nhau ở Côn Đảo. Khi gặp anh Cừ, chúng tôi rất dễ thông cảm nhau, hiểu biết nhau, vì cùng học với nhau ở Bắc Ninh thời niên thiếu”[4]... Đây là hàng trăm, hàng nghìn tù chính trị cộng sản vừa được giải thoát khỏi tù đày, ngục tù của đế quốc thực dân là nguồn cán bộ quý của Đảng, vì họ đã được thử thách rèn luyện trong các nhà tù đế quốc thực dân, có tài năng, có phẩm chất cách mạng, kiên trung, lực lượng này sẽ góp phần phục hồi và đẩy nhanh phong trào cách mạng tiến lên mạnh mẽ hơn.
Vào cuối năm 1936, các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Đinh Xuân Nhạ (tức Trần Quý Kiên) và Nguyễn Văn Minh hẹn nhau họp tại một địa điểm gần sân bay Gia Lâm nhằm trao đổi về việc củng cố và phát triển các cơ sở đảng, cơ sở cách mạng, tại cuộc họp, các đồng chí bàn nhau “thành lập cơ quan lãnh đạo lâm thời của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, lấy tên là Ủy ban sáng kiến”[5].
Các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Trần Quý Kiên và Nguyễn Văn Minh lại bàn cách thành lập một Ủy ban hành động làm nhiệm vụ củng cố tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ và liên lạc với các đồng chí cũ ở nhà tù về. Sau đó, Ủy ban sáng kiến được bổ sung thêm nhiều cán bộ, trong đó có nhiều đồng chí giàu kinh nghiệm hoạt động cách mạng[6], đồng thời trực tiếp tham gia khôi phục và phát triển các cơ sở đảng ở khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận[7].
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Ủy ban sáng kiến tiến hành phân công cán bộ bắt mối với các đồng chí, các cơ sở đảng nhiều địa phương để khôi phục tổ chức đảng và phong trào cách mạng trong Xứ. Ủy ban sáng kiến làm việc như một Xứ ủy lâm thời. Như Báo cáo của Ban Trung ương gửi Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Việc tổ chức lại các tổ chức của Đảng có thể tiến hành khá nhanh, đó là nhờ hoạt động của các cựu tù chính trị được ân xá sau thắng lợi của Mặt trận bình dân ở Pháp”[8].
Tháng 3-1937, Xứ ủy Bắc Kỳ được thành lập do đồng chí Hoàng Tú Hưu (Hoàng Văn Nọn) làm Bí thư. Xứ ủy viên gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Văn Minh, Tô Hiệu, Lương Khánh Thiện, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Đặng Xuân Khu. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Hạ Bá Cang được cử làm đại diện Xứ ủy đi họp Hội nghị Trung ương (từ ngày 25-8 đến ngày 4-9-1937). Hai đồng chí đều được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng[9].
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ lúc đó cũng được phân công hoạt động bí mật. Hoạt động công khai có đồng chí Đặng Xuân Khu và một số đồng chí khác”[10]. Như đồng chí Nguyễn Văn Minh nhận định về đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết: “Ngay từ bấy giờ tôi đã thấy rõ: Đồng chí Nguyễn Văn Cừ lúc đó đã trưởng thành, chín chắn về chính trị, không bồng bột. Trong hoạt động cách mạng, đồng chí Cừ biết tiến, biết lui, biết đánh, biết đỡ. Làm việc gì cũng biết nghĩ việc trước, lo việc sau, biết tính toán thuận lợi, khó khăn, tính đến thành công và khả năng thất bại. Có đồng chí tù ở Côn Đảo ra cũng nhận định như vậy. Vốn học vấn không nhiều, lại bị tù đày mà đã có đầu óc như thế là rất giỏi. Diễn đạt vấn đề rất khoa học. Nghĩa là có trình bày, có phân tích sâu sắc, có thực tiễn chứng minh, có tổng hợp... Nói năng gọn, mạch lạc, chắc chắn. Chữ nghĩa viết đúng. Đồng chí tỏ ra là một con người rất khiêm tốn, không bao giờ tỏ ra kiêu căng, tự mãn. Mặc dù thuyết phục được mọi người nghe ý kiến mình rồi nhưng vẫn không bao giờ tỏ ra kiêu ngạo mà vẫn khiêm tốn”[11].



