NGUYỄN VĂN CỪ – TUỔI TRẺ RỰC SÁNG TRÊN CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG
Bài viết khẳng định Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc, tư duy lý luận kiên trung và kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam, người hậu duệ đời thứ 17 của danh nhân Nguyễn Trãi. Xuất thân từ Bắc Ninh, ông sớm giác ngộ cách mạng, trực tiếp tham gia phong trào "vô sản hóa" tại vùng mỏ Vàng Danh (Quảng Ninh) và kinh qua nhiều chốn ngục tù khốc liệt của thực dân Pháp như Hỏa Lò, Côn Đảo. Ở tuổi 26, ông trở thành Tổng Bí thư trẻ tuổi nhất của Đảng, để lại dấu ấn lịch sử với tác phẩm "Tự chỉ trích" (1939) đặt nền móng cho nguyên tắc xây dựng Đảng vững mạnh và chủ trì Hội nghị Trung ương VI chuyển hướng chiến lược giải phóng dân tộc. Bị địch bắt năm 1940, ông anh dũng hy sinh trước họng súng kẻ thù tại Hóc Môn ngày 28/8/1941 ở tuổi 29. Qua hành trình dâng trọn trí tuệ và tuổi trẻ cho Tổ quốc của ông, tác giả gửi gắm bài học cho thế hệ trẻ thời bình: nuôi dưỡng lý tưởng cao đẹp, tôi luyện bản lĩnh, giữ vững tinh thần tự phê bình, không ngừng học tập và hành động thiết thực để dựng xây đất nước giàu mạnh.
Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9/7/1912 tại làng Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình nhà Nho nghèo, có truyền thống hiếu học và yêu nước. Là hậu duệ đời thứ 17 của danh nhân Nguyễn Trãi, ông sớm bộc lộ tư chất thông minh và ý chí lớn. Khi còn rất trẻ, Nguyễn Văn Cừ đã tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1928, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; cuối năm ấy, ông rời trường Bưởi, đến vùng mỏ Vàng Danh làm công nhân để trực tiếp tuyên truyền, giác ngộ công nhân và xây dựng cơ sở cách mạng.
Tháng 6/1929, Nguyễn Văn Cừ được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ông được giao phụ trách khu vực Hòn Gai – Uông Bí, góp phần xây dựng phong trào cách mạng trong công nhân vùng mỏ. Cuối năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt và trải qua nhiều nhà tù, trong đó có Hỏa Lò và Côn Đảo. Những năm tháng tù đày không khuất phục được người chiến sĩ trẻ mà trái lại trở thành thời gian để ông học tập, viết báo, rèn luyện lý luận và giữ vững niềm tin vào sự nghiệp cách mạng.
Được trả tự do năm 1936, Nguyễn Văn Cừ nhanh chóng trở lại hoạt động, góp phần khôi phục tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ. Tháng 3/1938, khi mới 26 tuổi, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cương vị lãnh đạo, ông thể hiện tư duy chính trị sắc bén, đặc biệt qua tác phẩm “Tự chỉ trích” năm 1939. Tác phẩm đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Cuối năm 1939, ông tham gia triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương tại Bà Điểm, góp phần quan trọng vào việc chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Ngày 18/1/1940, Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Sau đó, ông bị kết án tử hình. Ngày 28/8/1941, tại Hóc Môn, Gia Định, thực dân Pháp xử bắn Nguyễn Văn Cừ cùng các đồng chí Hà Huy Tập, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Minh Khai. Ông hy sinh khi mới 29 tuổi, khép lại một cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy trí tuệ, bản lĩnh và cống hiến cho dân tộc.
Nguyễn Văn Cừ là hình ảnh tiêu biểu của một thế hệ thanh niên Việt Nam sớm chọn lý tưởng lớn làm lẽ sống. Từ người công nhân vùng mỏ đến Tổng Bí thư ở tuổi 26, ông đã dành trọn tuổi trẻ cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Tấm gương Nguyễn Văn Cừ nhắc thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng lịch sử, nuôi dưỡng lý tưởng đẹp, không ngừng học tập, rèn luyện bản lĩnh và biến khát vọng tuổi trẻ thành những hành động thiết thực để xây dựng quê hương, đất nước.


