Nguyễn Văn Cứng và chuyến Tàu 42 chọc thủng vòng phong tỏa năm 1965
Sau tám tháng tuyến vận tải biển phải tạm ngừng vì sự kiện Vũng Rô, Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng chỉ huy Tàu 42 vượt hơn 1.200 hải lý, đưa 60 tấn vũ khí và bốn quả thủy lôi vào Cà Mau an toàn.
Nguyễn Văn Cứng, thường được đồng đội gọi là Bảy Cứng, sinh năm 1927 tại xã Tân An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Ông nhập ngũ năm 1946 và sau này trở thành Thuyền trưởng Tàu 42 thuộc Đoàn 125 Hải quân. Trong những chuyến vận tải bí mật trên Đường Hồ Chí Minh trên biển, ông được đồng đội nhớ đến là người chỉ huy thông minh, gan dạ và có khả năng xử trí đặc biệt bình tĩnh.
Đầu năm 1965, sau khi Tàu 143 bị phát hiện tại bến Vũng Rô, tuyến vận chuyển vũ khí bí mật trên biển đứng trước một thử thách rất lớn. Đối phương hiểu rằng có một con đường chi viện từ miền Bắc vào các bến ven biển miền Nam nên tăng cường phong tỏa, dùng tàu chiến, máy bay và ra-đa giám sát cả vùng biển.
Ngoài khơi, lực lượng Hải quân Mỹ mở rộng phạm vi hoạt động; ven bờ có các tàu tuần tiễu kiểm soát tàu thuyền qua lại. Vùng biển Việt Nam bị chia thành nhiều khu vực chiến sự, mỗi phương tiện xuất hiện đều có thể bị chặn hỏi, khám xét hoặc bám theo. Vì thế, phương thức đi ven bờ từng được các tàu không số sử dụng không còn phù hợp.
Trong tám tháng, các chuyến vận chuyển phải tạm ngừng để nghiên cứu cách đi mới. Nhiệm vụ không chỉ là tìm một tuyến đường khác mà còn phải chứng minh rằng con đường chiến lược trên biển vẫn có thể hoạt động. Tàu 42, do Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng và Chính trị viên Trần Ngọc Ẩn chỉ huy, được chọn thực hiện chuyến đi thử nghiệm có ý nghĩa đặc biệt này.
Tàu có 16 cán bộ, thủy thủ. Ngoài nhiệm vụ thăm dò hoạt động của đối phương và mở đường, tàu chở khoảng 60 tấn vũ khí cùng bốn quả thủy lôi KB do Liên Xô chế tạo, mỗi quả nặng hơn một tấn. Số hàng ấy phải được đưa tới Cà Mau để chi viện chiến trường, trong đó những quả thủy lôi sẽ phục vụ lực lượng đặc công thủy.
Để qua mắt đối phương, Tàu 42 được cải dạng thành tàu đánh cá nước ngoài. Từ màu sơn, trang phục thủy thủ đến các vật dụng nhỏ nhất đều phải phù hợp với vỏ bọc. Nhãn trên tuýp kem đánh răng, bao thuốc lá và những đồ dùng có chữ Việt Nam đều bị cạo bỏ. Vũ khí được ngụy trang kín, còn cán bộ, chiến sĩ mặc như những ngư dân đi biển quốc tế.
Ngày 15-10-1965, Tàu 42 rời bến K15 ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Thay vì bám bờ, Nguyễn Văn Cứng cùng ban chỉ huy cho tàu đi xa ra vùng biển quốc tế. Hành trình đi qua Long Châu, hướng về Hải Nam, xuống khu vực quần đảo Trường Sa, qua vùng biển gần các đảo phía Philippines rồi mới chuyển về Cà Mau.
Phương pháp hàng hải của chuyến đi dựa nhiều vào thiên văn, tức xác định vị trí và phương hướng qua các vì sao. Ban ngày, tàu giữ vỏ bọc đánh cá; ban đêm tranh thủ hành trình. Tất cả phải được tính toán cẩn thận vì chỉ một sai số cũng có thể khiến tàu đi vào vùng kiểm soát của đối phương hoặc chệch khỏi bến nhận hàng.
Trên đường đi, Tàu 42 có lúc gặp các tàu chiến theo dõi và thử phản ứng. Cán bộ, thủy thủ vẫn giữ bình tĩnh, tiếp tục đóng vai ngư dân nước ngoài. Khi tàu đối phương áp sát, họ còn tỏ vẻ thân thiện, vẫy chào và ném cam, chuối sang mời. Cách ứng xử tự nhiên khiến đối phương không xác định được thân phận thật của con tàu.
Sau năm ngày hành trình, đêm 20-10-1965, Tàu 42 đến gần cửa Bồ Đề, Cà Mau. Tuy nhiên, sở chỉ huy báo khu vực bến chính có nhiều tàu đối phương neo đậu. Nguyễn Văn Cứng không vội đưa tàu vào, mà chuyển hướng ra vùng biển xa chờ thời cơ và chỉ thị mới.
Bốn ngày lênh đênh ngoài khơi là thử thách lớn. Mỗi giờ chờ đợi đều làm tăng nguy cơ bị phát hiện, trong khi tàu mang hàng chục tấn vũ khí và nhiều thuốc nổ. Nếu bị lộ, thủy thủ đoàn đã chuẩn bị phương án chiến đấu và hủy tàu để giữ bí mật tuyến đường.
Đêm 23-10, Tàu 42 nhận lệnh chuyển sang bến phụ tại rạch Kiến Vàng. Nguyễn Văn Cứng sinh ra và từng sống ở vùng Ngọc Hiển nên hiểu đặc điểm cửa sông, luồng lạch Cà Mau. Ông chỉ huy tàu đổi hướng, tìm cách xuyên qua khu vực có nhiều phương tiện đối phương.
Khi đến gần bờ, các vị trí quan sát báo quanh tàu đều có ánh đèn; cứ khoảng 400 đến 500 mét lại có một chiếc tàu neo đậu. Tàu 42 gần như lọt vào giữa vòng vây. Nguyễn Văn Cứng triệu tập cuộc hội ý chớp nhoáng với cấp ủy và ban chỉ huy.
Ông quyết định không quay đầu bỏ chạy, vì hành động ấy dễ làm đối phương nghi ngờ. Tàu giảm tốc độ và chạy vòng theo hướng đội hình bao vây, tạo cảm giác vẫn là một tàu đánh cá đang hoạt động bình thường. Khi tới gần bờ, ông bất ngờ ra lệnh tắt đèn hành trình, quặt lái, tăng tốc và chuyển thẳng vào cửa sông.
Quyết định ấy đòi hỏi người chỉ huy phải hiểu rõ luồng lạch, tính đúng thời điểm và giữ được sự thống nhất của toàn tàu. Chỉ cần chuyển hướng sớm hoặc muộn, Tàu 42 có thể bị chặn lại giữa khu vực đối phương kiểm soát.
Sau khi lọt qua cửa Bồ Đề, tàu vẫn nhìn thấy một số phương tiện đối phương phía xa. Lực lượng ở bến cho xuồng ra đón. Hai bên phát đúng tín hiệu nhận nhau, rồi Tàu 42 được dẫn vào rạch Kiến Vàng an toàn. Đêm 24-10-1965, toàn bộ 60 tấn vũ khí và bốn quả thủy lôi được nhanh chóng bàn giao cho lực lượng tiếp nhận.
Chuyến đi kéo dài khoảng 20 ngày cả đi lẫn về, với quãng đường hơn 1.200 hải lý. Thành công của Tàu 42 đã mở lại Đường Hồ Chí Minh trên biển sau tám tháng tạm ngừng, đồng thời chứng minh hiệu quả của phương thức đi xa bờ, cải dạng tàu nước ngoài và xử trí linh hoạt khi gặp đối phương.
Những quả thủy lôi được đưa vào miền Nam sau đó phục vụ lực lượng đặc công Rừng Sác. Tư liệu của Hải quân ghi nhận loại vũ khí này góp phần vào trận đánh chiến hạm Baton Rouge Victory trên sông Lòng Tàu, làm gián đoạn tuyến thủy lộ vào cảng Sài Gòn trong tháng 8-1966.
Nguyễn Văn Cứng tiếp tục chỉ huy Tàu 42 thực hiện nhiều chuyến vận chuyển thành công. Tài năng của ông không chỉ thể hiện ở kỹ thuật đi biển mà còn ở khả năng đánh giá tâm lý đối phương, giữ kín vỏ bọc và đưa ra quyết định dứt khoát trong tình thế hiểm nghèo.
Ngày 23-5-2005, Nguyễn Văn Cứng được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chuyến đi tháng 10-1965 của Tàu 42 vẫn là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh của ông: lấy trí thông minh đối phó hệ thống phong tỏa hiện đại, dùng sự bình tĩnh bảo vệ cả thủy thủ đoàn và giữ thông suốt con đường chi viện chiến lược trên biển.



